Mùa mưa_Nevil Shute

rko_4180

New Member
Ðề: Mùa mưa_Nevil Shute

Người ta có đi thuyền như ở bên Anh vậy không?
Trời! thứ gì mà chả có, bên em có những loại thuyền đua như thế nào thì ở đây cũng vậy thôi. Anh có một chiếc con Rồng đậu ở đây, trong câu lạc bộ Brighton.
Nàng nhìn chàng ngạc nhiên:
Thế có lần anh bảo em anh đi chiếc con Rồng, thế nó ở đây sao?
Chàng gật đầu:
Đây là thành phố quê hương của anh. Anh chỉ sinh ra ở Queensland nhưng suốt cuộc đời binh nghiệp của anh chỉ quanh quẩn trong thành phố Melbourne này. Anh đã cư trú tại Laverton trước khi đến nước Anh
Nàng hỏi:
Thế chúng ta đi xem chiếc con Rồng có được không? Em muốn tận mắt thấy một câu lạc bộ thuyền buồm của Úc.
Chàng trả lời:
Dĩ nhiên rồi! Anh cũng muốn đi thăm lại nó, đã một năm rồi, anh chưa đến đây. Chúng ta cho xe chạy băng qua thành phố rồi kiếm chỗ nào ăn trưa, sau đó sẽ xuống Brighton.
Có xa không anh?
Chàng lắc đầu:
Ngoài thành phố độ vài dặm. Ngoại ô mà! Đẹp lắm nhe!
Nàng nhìn quanh thích thú khi hai người lái xuyên qua vùng ngoại ô xa hơn. Nàng nói:
Nhiều nhà mới ghê anh nhỉ? David, anh cho em dừng lại để xem đi!
Chàng đáp:
Dĩ nhiên rồi! – chàng nhoài người tới trước và nói với người tài xế – Cái nhà kia vừa mới làm xong đấy! Dừng lại anh nhé!
Hai người bước xuống xe nàng nhìn quanh khu vườn bị xả rác. Nàng nói:
Em thấy chỗ nào xây dựng cũng không tránh khỏi như thế này. Cũng phải mất nhiều thời giờ để sắp xếp ngôi vườn cho tươm tất, anh nhỉ?
Nàng đứng nhìn quanh và nói:
Bất cứ ai có tiền cũng mua được một miếng đất và xây một ngôi nhà như thế này, anh nhỉ?
Chàng trả lời:
Đúng vậy. Và rồi đó là sản nghiệp của em, em muốn làm gì thì làm, bán đi, đổi chác, sống ở trong đó hay cho thuê giá bao nhiêu tuỳ ý. Mà chẳng cần phải hỏi Bộ.
Anh nghĩ điều đó cũng phải thôi. Anh chưa bao giờ nghe nói là phải hỏi ý kiến của ai cả.
Nàng nói:
Thật là vui khi có một căn nhà của riêng mình, cũng như có một chiếc thuyền vậy.
Cửa lớn mở, thợ sơn, thợ điện đến để làm những việc sau cùng. Cô gái hỏi:
Anh muốn làm bao nhiêu cũng được, phải không? Ý em nói, nếu muốn làm cho căn phòng đẹp thật sự, sàn nhà và gương soi xung quanh đều bằng I-nốc, một hồ cá làm bằng thạch cao nằnm chìm dưới nền có ánh điện màu hồng phản chiếu, có làm được chăng?
Chàng cười:
Anh không nghĩ có điều gì trở ngại cả, nếu em có đủ tiền và em muốn làm như thế
Hai người đi từ phòng này sang phòng khác. Những đồ đạc nội thất gợi lên óc tò mò của nàng, thiết trí các vòi nước và bồn rửa trong nhà bếp.
Nàng nói:
Dĩ nhiên, những đồ mới này không có ở nước Anh vì chẳng có ngôi nhà nào mới xây cả. Những vòi nước và bồn rửa trong các căn nhà cũng cách đây sáu mươi cho đến bảy mươi năm. Những thứ như thế này khó mà cũ lắm!
Nàng quay về phía David hỏi:
Anh David này, một căn nhà này giá bao nhiêu? Ý em nói là mới hoàn toàn.
Chàng đáp:
Nếu là ba phòng ngủ và chẳng có gì đặc biệt cả, anh nghĩ cũng vào khoảng bốn năm ngàn Anh kim.
Nàng nhìn chàng cười:
Nếu anh định kết hôn với ai, anh có đủ tiền mua nhà này không?
Chàng cười vui bảo:
Dĩ nhiên rồi. Hai người thì mua phải được.
Nàng quay đi:
Em có nói thế đâu. Em muốn nói là riêng anh cơ!
Hai người đi trở về xe hơi và lái về Melbourne. Chàng nói:
Thành phố này chẳng có chi nhiều. Không lớn lắm, chỉ vào khoảng hai triệu dân thôi, nhưng theo em nghĩ nó có mọi thứ em cần: câu lạc bộ, nhà hát, phòng tranh và tụ điểm ca nhạc. Và, có lẽ là nơi đáng yêu vì rất nhiều công viên và các con phố rộng. Anh đã đi nhiều nơi trên thế giới, nhưng anh thích Melbourne, vì nó chẳng thua kém gì các nơi khác.
Cuối ngày nàng đồng ý với chàng cùng ăn trưa ở một quán ăn Hy lạp nhỏ mà chàng quen với ông chủ. Oâng đã đối xử lịch thiệp vì tên chàng đã được các báo đăng tin liên quan đến cuộc viếng thăm bất ngờ tại Úc của Nữ hoàng. Từ đây xe đưa hai người về công viên Trearury, ở đấy chàng đã chỉ cho nàng xem lều tranh của thuyền trưởng Cook, được một ân nhân có lòng hào hiệp bảo quản sau khi bị phá huỷ ở Whitby và người ấy đã chuyên chở từng viên đá một, một cách sùng kính qua mười hai ngàn dặm để được tái thiết ở miền Antipodes, nơi thuyền trưởng Cook thám hiểm. Sau đấy hai người lái xe về câu lạc bộ thuyền buồm Hoàng gia ở Brighton. Ơû đây mùi biển mặn, mùi rong rêu, dầu bóng và gỗ ván thuyền mới đã gợi cho Rosemary kí ức quê hương ở Itchernor
Oà anh David, đây là loại thuyền quốc tế muời bốn tấn và kia cũng là một chiếc nữa!
Đúng rồi – David nói – Họ có cả một đoàn thuyền như thế ở đây
Nàng ngạc nhiên nói:
Em đâu biết như vậy, em cứ nghĩ thuyền bên này cũng giống như thuyền ở Anh thôi!
Chàng cười nói:
Do đó người ta mới gọi là thuyền quốc tế .
Hai người len lỏi qua các dãy thuyền để chồng chất lên nhau trên bến để đến thăm câu lạc bộ thuyền rồng của chàng đã bị phủ bụi thời gian
Chàng nói:
Đấy là chiếc Ariadne, có đủ cột buồm và sào căng buồm.
Rosemary nói:
Nó cũng giống như một chiếc thuyền buồm loại Dragon của Anh, tuy đường nét của nó sắc sảo hơn.
David nói:
Thuyền buồm mà! Cũng được bốn mươi năm rồi đấy, nhưng vẫn còn tốt chán!
Chàng đưa bàn tay sờ phía bên ngoài vỏ thuyền, cười nói với cô gái:
Gặp lại được anh cũng mừng, giờ thì nó đang chờ anh trở lại với nước Úc.
Nàng đứng quan sát chiếc thuyền một hồi lâu rồi nói:
Anh cũng mong trở lại đây lắm, phải không anh?
Chàng trả lời:
Nơi đây là quê hương anh. Anh không thể bỏ qua dịp may tiến thân vào phi đội Nữ hoàng. Anh rất sung sướng đã không từ chối công việc đã may mắn đến với anh. Anh cũng đã bắt đầu hiểu thêm một phần nào về nước Anh. Nhưng anh mong một ngày trở lại cố hương, không còn bận bịu với công việc và tự do đi thuyền.
Chàng vỗ nhẹ vào con thuyền và mời nàng:
Em có lên thăm buồng lái một chút không. Nó bẩn lắm đấy!
Em cũng muốn xem trên sàn thuyền như thế nào, anh David ạ!
Nàng buớc lên thang và trèo vào buồng lái, lấy tay phủi bụi để xem nước sơn bóng ở dưới. Nàng hỏi:
Chắc nó chạy nhanh lắm, anh nhỉ? Một ngày nào đó, em thích chính tay mình lái con thuyền này.
Chàng nói:
Rồi em sẽ có dịp thôi.
Giả vờ như không nghe câu trả lời của chàng, nàng hỏi tiếp:
Anh vừa mới nói là hiểu thêm được nhiều điều từ nước Anh là ý làm sao? Hay anh cũng bắt đầu cảm thấy mến nước Anh hơn trước, phải không anh?.
Suy nghĩ một lúc chàng trả lời:
Anh không bao giờ thích sống ở Anh. Anh nghĩ là còn có nhiều nơi tốt hơn để sinh sống và đây là một trong những nơi ấy. Cái mà anh muốn nói là có quá nhiều thứ để chiêm ngưỡng và thích thú ở Anh. Những thành quả về kỹ thuật của họ, sự can đảm trong những điều kiện xấu bắt buộc họ phải chịu đựng, ngay cả chính Nữ hoàng. Cũng có nhiều thứ đáng ghét như hệ thống chính trị, sự nô dịch của công nhân viên chức. Không biết ở Anh có được phép phê phán chính quyền như ở Úc không, vì ở đấy chẳng có điều tệ hại như thế. Nghĩ cho cùng đây cũng là sự may mắn thôi, vì nếu dân Úc làm không đủ nuôi miệng thì đời sống của họ cũng như dân Anh hiện tại mà thôi.
Nàng suy nghĩ mãi mới nói ra được:
Nhờ trời thương, nước Úc mới như ngày hôm nay.
Em nói sao? À, phải. Anh cũng nghĩ rằng nếu nước Úc cùng gặp vận rủi như nước Anh, hai nước chúng ta sẽ cùng hội cùng thuyền mà thôi. Căn bản, chúng ta là hai dân tộc giống nhau, nên phản ứng cũng giống nhau.
 

rko_4180

New Member
Ðề: Mùa mưa_Nevil Shute

Nàng cười:
Anh không nghĩ rằng dân Úc là một dân tộc cao cấp hơn sao?
Chàng thật thà trả lời:
Anh cũng thường nghĩ như thế. Anh cũng nghĩ là dân Úc có được một chính quyền biết điều mà dân Anh đã đánh mất và điều đó đã làm cho xứ sở này sung sướng và thịnh vượng hơn. Nhưng giờ này thì anh không còn chắc chắn nữa. So sánh với nước Anh, nước Úc còn chậm tiến về khoa học, kỹ thuật. Anh cũng không chắc là điều ấy có dễ dàng hơn ở đây chăng, vì đất rộng người thưa, nên những ai có lòng gan dạ và quả quyết cũng có thể khởi đầu một sự nghiệp và mỗi ngày càng thấy phát đạt. Aên nhiều, làm nhiều, làm nhiều, phát triển mạnh. Anh không hiểu đấy có phải là nguyên tắc làm việc không, nhưng cứ tự đánh lừa mình như thế.
Nàng lập lại lời chàng:
Đấy cũng chỉ là sự may mắn của một trò chơi.
Đúng rồi! Thế em có cảm nghĩ như thế nào với công việc của đất nước này?
Em chỉ thấy được mặt nổi của nó thôi, anh David ạ! Nàng trả lời:
Em chỉ mới đến đây được bốn ngày: trong khách sạn Canberra, biệt điện, cửa hàng ăn chúng ta đã ăn trưa với nhau và câu lạc bộ thuyền buồm này.
Nàng cười nói tiếp:
Em sẽ không dám nghĩ là có thích hay không nữa, nhưng em phải công nhận một điều là trước đây em chưa bao giờ biết Úc đẹp đến như thế, có nhiều loại hoa đến như thế và cây đang mùa ra hoa nhiều đến như thế! Nhưng không phải chỉ mới xem qua như thế mà đã vội kết luận là em yêu nước Uùc.
Chàng công nhận:
Em nói đúng. Cũng phải cần sống một năm trong một trại chăn nuôi súc vật, chẳng có ai mà hàn huyên tâm sự ngoài trâu bò dê cừu, quanh năm thì hạn hán hoặc cháy rừng .
Nàng cười:
Nếu như thế, thà em trở về căn hộ độc thân của em đường Dover còn vưi hơn!.
Nàng đứng dậy và chàng giữ thang cho nàng bước xuống. Hai người đi quanh và tìm thấy người quản đốc, nói chuyện với ông ta một chút về chiếc Ariadne, sau đấy hai người đi vào câu lạc bộ và uống trà bên cạnh cửa sổ nhìn ra cảng. Và rồi cũng đến giờ lên xe để trở về Berwick.
Vào giờ này đã có một đám người khá đông tụ tập trên phi trường và một số phóng viên báo chí được tin Nữ hoàng đến thăm viếng nước Uùc. Rosemary đi qua đám dân chúng không mấy khó khăn và bước vào phi cơ, riêng David phải để cho phó nhòm chụp ảnh và phỏng vấn. Chàng tìm cách thoái thác để lên máy bay bắt đầu công việc. Trong lúc ấy Nữ hoàng và Quận công được xe hơi đưa đến, dừng lại một chút để phóng viên chụp ảnh, rồi mới bước lên phi cơ. Frank Cox tiến về phía trước, nói vài lời với cơ trưởng cơ phó, sau đó David lái chiếc Ceres về cuối phi đạo và bắt đầu cất cánh. Bảy giờ kém mười, trong ánh sáng hoàng hôn, David đáp xuống Canberra.
Ngày hôm sau Frank Cox đến tìm David vào giờ ăn trưa trong nhà ăn sĩ quan ở phi trường Fairbairn. Oâng ta nói:
Phải trở về Luân Đôn ngày mai hay ngày mốt. Hai ngài muốn đề nghị một giờ cất cánh thích hợp.
Viên phi công gật đầu:
Chắc hai ngài muốn trở về buổi tối, hạ cánh ở phi trường White Waltham vào lúc bảy giờ.
Tôi cũng nghĩ như vậy. Thế là hai ngài nghỉ được một đêm trước khi bắt đầu công việc trở lại.
David nói:
Cách nhau mười tiếng đồng hồ. Tiếp tế nhiên liệu ở Ratmalana, như vậy phải mất mười giờ nữa vì đi về hướng tây ngược gió. Hai ngài có muốn dừng lại ở Tích Lan không?
Đại tá lắc đầu:
Hai ngài muốn đi thẳng về Luân Đôn, càng sớm càng tốt.
Aø, vậy là tính thêm một giờ ở Ratmalana, vị chi hai mươi mốt giờ. Cũng nên để một giờ cho các phái đoàn. Vậy ta cất cánh ở đây lúc bảy giờ sáng sẽ đến White Waltham vào lúc bảy giờ tối.
Suốt chuyến bay ban ngày?
Đúng vậy, viên phi công trả lời:
Thường thường bạn có thể thực hiện một chuyến bay ban ngày về hướng tây với vận tốc phi hành.
Tôi sẽ trình lại cho hai ngài rõ. Chắc phải để các ngài dùng trà sáng ở Tharwa và dùng sáng trên máy bay.
Đúng vậy, David nói:
Aên sáng lúc tám giờ lúc chúng tôi đã chỉnh đường bay thẳng. Nếu đang cất cánh mà ăn sáng thì hơi bất tiện vì bàn ghế có thể xê dịch.
Suy nghĩ một lúc David lại nói tiếp:
Hai mươi giờ. Một bữa ăn sáng và bốn bữa khác nữa. Làm sao nhỉ?.
Tôi cũng đang nghĩ như anh. Làm sao thuận tiện cho các ngài?
David gật đầu:
Hai nóng, hai lạnh. Tôi phải gặp tiếp viên thì công việc sẽ xong ngay. Khi nào thì anh có thể thông báo cho tôi biết chắc giờ bay?
Máy bay có trở ngại gì không?
Không. Chúng ta có thể đi ngay, chỉ chờ lương thực.
Tôi sẽ điện thoại cho anh vào lúc bốn giờ chiều nay.
Sau đó Đại tá đã điện thoại, và chuyến bay trở về Luân Đôn sẽ được thực hiện một ngày sau đó. David dặn dò phi hành đoàn, chiếc Ceres được kéo ra khỏi nhà chứa phi cơ trong ánh sáng hoàng hôn và cho nổ máy thử, cuối cùng được đổ đầy nhiên liệu cho chuyến bay đến Colombo. Khi trở về khách sạn thì đã bảy giờ, chàng gặp Rosemary đang đứng chờ trong phòng khách khi chàng đi ngang qua. Bị chận lại chàng liền nói:
Đợi anh một phút thôi, anh chỉ rửa ráy là xong ngay.
Nàng trả lời:
Cũng được thôi. Em đã gặp trưởng nhóm bồi bàn và họ đã lo bữa ăn tối cho chúng ta. Người Uùc ăn tối sớm quá anh nhỉ?
Năm phút sau chàng có mặt bên nàng và họ đi ăn. Phòng ăn còn trống, nhìn quanh cũng chẳng có ai ngồi kề. Chàng hỏi:
Về lại Luân Đôn, tin ấy đã được thông báo chưa em?
Nàng lắc đầu:
Chắc sẽ được phát trong bản tin chín giờ vì sẽ gây sự thất vọng cho bao người ở đây, các ngài bảo thế.
Chàng gật đầu:
Có lẽ thế. Ngài đã vắng mặt ở đây hai năm rồi! Nếu so với miền tây nước Uùc thì còn lâu hơn thế nữa. Bây giờ ngài đến chỉ một tuần đã trở về Anh quốc. Dân chúng không buồn sao được!
Cô gái nói:
Không chỉ dân Uùc buồn đâu nhé!
Thế còn ai nữa
Thì chính ngài. Đâu phải Ngài muốn trở về Anh quốc để nghỉ ngơi đâu!
Thì anh cũng biết thế.
Hai người yên lặng một lúc. Đến lượt Rosemary nói:
Tharwa sẽ không bị bỏ phế !
Em nói sao?
Xe hơi còn đang đậu trong nhà chứa xe và nhân viên đang còn bận rộn trong căn nhà ấy. Trước khi chúng ta đến đây tất cả mọi thứ cũng đã được chăm sóc, bảo trì. Lần này họ chuẩn bị rất chu đáo để đón ngài, mọi người làm việc suốt đêm. Giá như chúng ta không dừng lại ở đảo Christmas, chưa chắc mọi thứ đã làm xong. Ngay trong nội bộ, sự quyết định gấp rút của Ngài đi từ Ottawa đến Tharwa sau hai năm xa cách, mà một ngày sau là phải đến rồi, như thế cũng đã làm cho công việc khó khăn đến bao nhiêu!
 

rko_4180

New Member
Ðề: Mùa mưa_Nevil Shute

Chàng trả lời:
Anh chưa bao giờ nghĩ đến điều ấy. Thế căn nhà đã không được chăm sóc, bảo trì hay sao?
Nàng lắc đầu:
Ý em muốn nói ngài đến đây có hơi sớm hay chăng?
Nàng nói:
Cũng có thể như thế, nhưng cũng do hoàng tử Charles và công chúa Anne một phần. Dầu sao, vương cung Tharwa cũng đang mở cửa đón khách cơ mà!
Chàng cười:
Thế nào rồi bác Donald của em cũng sẽ đến thăm các chiếc Ceres này.
Nàng chỉnh lại:
Có lẽ em phải thăm bác ấy thì đúng hơn.
Chàng nhìn nàng hỏi:
Nếu Nữ hoàng trở lại đây sau khi đã hoàn tất công việc ở Luân đôn, em có đi với ngài không?
Có thể lắm anh ạ! Lần này mọi việc đều êm xuôi , Thiếu tá Macmahon hình như có thể đảm trách hoàn toàn công việc mà ngài phó thác, nếu ông ấy đi, có lẽ em được đi. Em thấy Huân tước Marlow không thể đi nhiều được vì tuổi già sức yếu. Hơn nữa, em nghĩ cụ ấy không thể đến đây thường xuyên như Thiếu tá Macmahon được. Oâng ấy là thành viên già nhất trong lớp quí tộc.
David gật đầu:
Ông cụ không thể đến đây được. Thiếu tá Macmahon nói rất phải.
Hai người ăn xong, đi ra ngoài hàng hiên bao quanh sân vườn và ngồi xuống trên ghế dài cùng uống cà phê. Chàng phi công nói:
Uống xong cà phê này là anh đi ngủ liền. Năm giờ anh đã phải thức dậy. Xe đến đón anh lúc năm giờ hai mươi.
Trong đêm tối ấm áp, những luống hoa bảy mùi hương. Nàng nói:
Đêm mai thì chúng ta không thể ngồi như thế này được nữa. Trời đã vào giữa mùa đông, còn ba tuần lễ nữa là đến Giáng sinh.
David nhắc nhở:
Anh đoán thế nào rồi White Waltham cũng phải gặp nhiều sự khó khăn trước mặt. Mùa sương mù đã đến cũng ngăn bớt tầm nhìn. Nếu như thế, có lẽ chúng ta phải đổi hướng và đưa các ngài hạ cánh xuống phi trường Luân đôn, ở đấy có đài rađa kiểm tra mặt đất khi đáp.
Dầu còn quá sớm, nhưng đã có một số đông người tụ tập ở phi trường Fairbairn sáng hôm ấy để đưa tiễn Nữ hoàng. Khi chiếc xe hơi hoàng gia dừng lại trước máy bay, Nữ hoàng và Quận công bước ra tiếp chuyện ngài Toàn quyền và Thủ tướng một lúc, trong lúc ấy máy quay phim hoạt động và đèn chớp ảnh sáng liên hồi. Sau đấy hai ngài bước lên chiếc Ceres và cánh cửa máy bay đóng lại. Frank Cox tiến về phía David nói mấy câu và sĩ quan phi hành bắt đầu cho nổ máy và lái về phía phi đạo. Năm phút sau, tất cả đều ở trên không có chiến đấu cơ hộ tống ở mỗi bên, máy bay từ từ lên đến cao độ phi hành khi bay qua tiểu bang New South Wales.
Ơû trung tâm nước Uùc, thời tiết trong sáng và không một vẩn mây. Qua khỏi vùng đất lồi lõm của khu Broken Hill, máy bay đã trở lại độ cao thăng bằng. Nữ hoàng gửi lời cám ơn các phi cơ hộ tống qua vô tuyến, sau đó những máy này tách ra và hạ cánh xuống mặt đất và cả đoàn tùy tùng hoàng gia bắt đầu ăn sáng. Gần chín giờ, máy bay bay qua trên tuyến đường sắt Odnadatta, từ Alice chạy về nam. Đến giờ này, trước mặt họ chẳng có gì ngoài những vùng đất hoang hóa màu vàng và màu hồng của sa mạc Uùc. Từ đây đến Aán độ dương vào lúc mười một giờ, máy bay giữ một độ cao đều và không thay đổi, tới một nơi gọi là Marble Bar, biển đã hiện ra trước mặt. David nhường tay lái cho Ryder, ăn trưa và đi nằm một lát. Họ bay qua một phần của đảo Christmas và bay gần song song với bờ biển của đảo Java và Sumatra, vào khoảng một trăm năm mươi dặm về hướng nam, cứ bay như thế suốt cả buổi chiều trong bầu trời quang đãng. Vào lúc bốn giờ, giờ Canberra, họ bắt đầu hạ độ cao và đáp xuống Colombo và uống trà chiều. Một giờ sau David cho chiếc Ceres hạ cánh trên đường băng Ratmalana, từ khi rời Canberra đã mười giờ bay. Theo giờ địa phương thì trời đã về chiều.
Theo yêu cầu của Nữ hoàng, không được tuyên bố gì đối với cuộc thăm viếng trên đường bay, nên chẳng có báo chí hoặc dân chúng ở phi cảng và chỉ có độc nhất một nhiếp ảnh viên có được bản tin riêng, nhưng cũng có vài người tập hợp quanh vị Toàn quyền và ngài Thủ tướng đang đợi chờ đón Nữ hoàng trên sân bay. Nữ hoàng và Quận công bước ra khỏi phi cơ và đứng hàn huyên với họ trong bóng râm của các tòa nhà ở phi trường trong lúc chiếc Ceres đang được tiếp tế nhiên liệu và kiểm tra. Chỉ trong năm mươi lăm phút David báo cáo với Đại tá Cox công chuyện đã xong xuôi và sẵn sàng bay. Mười phút sau, họ đã ở trên không, máy bay đang ở độ cao phi hành đang bay qua mõm Comarin trên đường đến vịnh Ba tư và đảo Síp. Nếu bay thẳng sẽ đi qua xứ Kurdistan và Hắc hải, vẫn còn là biên thùy của những kẻ thù địch và ưa gây chiến, tốt hơn nên tránh cho đường bay của Nữ hoàng nước Anh.
Vào khoảng tám giờ sáng, giờ Greenwich, từ khi rời Colombo, máy bay bay qua biển Ả rập, mọi người đều buồn ngủ và đang ngủ gà ngủ gật trong ghế ngồi, Nữ hoàng và Quận công đã trở về buồng riêng. Trong tay lái, cả ba người Frank Cox, David và Ryder cùng kiểm tra đường bay trong suốt ba tiếng đồng hồ nhưng chẳng có việc gì nhiều vì máy bay đi theo đường bay nhất định của tay lái tự động. Vào lúc mười một giờ rưỡi, họ đến vịnh Oman trước khi đến vịnh Ba tư và bay qua thành phố Muscat, lúc một giờ họ bay qua Kuweit. Một giờ bốn mươi phút sau, đảo Sip ở phía dưới họ, họ đổi đường bay hướng về Luân Đôn. Vào lúc bốn giờ họ đến phía Nam thành phố Belgrade vào lúc chập choạng tối và một giờ sau đã đến vùng phụ cận của thành phố Munich, David bắt đầu hạ thấp cao độ từ xa để chuẩn bị hạ cánh. Và cũng từ đây họ bắt đầu gặp trở ngại.
Họ đã thông báo cho đài kiểm soát không lưu Luân đôn về giờ đến phỏng định và xin lời chỉ dẫn về thời tiết thật sự. Trong vài phút sau trực vô tuyến trao cho David một mảnh giấy. Có Frank Cox ở bên, David đang gò lưng trên bàn đồ thị nghiên cứu.
Hai người cùng nghiên cứu mẫu tin trong yên lặng:
Một buổi tối tháng chạp điển hình. Đại tá Cox phát biểu.
Có mây thấp trên toàn miền Nam nước Anh với những cụm sương mù. Ơû phi trường Luân đôn mây xuống thấp tám trăm bộ, tầm nhìn xa trên mặt đất là sáu trăm mét. Có điều kiện đóng băng ở hai ngàn bộ.
David gật đầu:
Tôi nghĩ là chúng ta nên xin đổi hướng về Luân đôn. Trong điều kiện như thế này, đáp xuống White Waltham chẳng có thiết bị hạ cánh đâu. Phi trường Luân đôn thuận lợi cho chúng ta hơn trong một đêm như thế này.
Đại tá không đoàn trưởng nói:
Tôi đồng ý.
David phát tín hiệu và đợi chờ sự trả lời chấp thuận và thông tin cho một chiếc máy bay đang ở trên không trung. Mười phút vẫn chưa có trả lời trong lúc ấy máy bay của họ đang tiến dần đến nước Anh với vận tốc sáu trăm dặm giờ và giảm độ cao một ngàn bộ một phút. Cơ trưởng nhăn mày và lặp lại lời thỉnh cầu được đổi hướng đến phi trường Luân đôn, nhấn mạnh cao độ và vị trí và giờ đến phỏng định.
Cuối cùng cũng có trả lời:
Giữ cao độ ba mươi ngàn bộ. Chấp thuận đổi hướng về phi trường Driffield, thuộc Yorks. Mây ở Driffield ba ngàn bộ, tầm nhìn năm dặm.
Hai sĩ quan nhìn bản tin sửng sốt. Frank Cox buột miệng nói:
Trời đất, chúng ta không thể theo lệnh họ đáp xuống Yorkshire.
Viên phi công cắn môi:
Nhưng họ đã nói như vậy.
Thế máy bay có lên xuống phi trường Luân đôn không?
David quay về chuyên viên vô tuyến, người này nói:
Thưa cơ trưởng máy bay vẫn hoạt động bình thường ở Luân đôn. Tôi nghe họ trao đổi với nhau trên tầng số cao. Họ vẫn đáp bình thường.
 

rko_4180

New Member
Ðề: Mùa mưa_Nevil Shute

Đại tá Cox nói:
Anh hãy điện cho họ như thế này: Xin phép được đáp ở phi trường Luân đôn, toàn thể hành khách là hoàng cung - ký tên, chỉ huy trưởng Phi đội Nữ hoàng.
David hỏi:
Chúng ta xuống ba mươi ngàn bộ, được không Đại tá? Chúng ta đến gần rồi mà!
Frank Cox lưỡng lự. Trong ngành hàng không, việc đến gần một vùng có nhiều máy bay ban đêm phải được tuân thủ và những chỉ thị của đài kiểm soát không lưu phải được tôn trọng tuyệt đối, ai cũng phải biết điều đó. Tuy gật đầu nhưng vẫn không vừa ý:
Cứ hạ xuống ba mươi ngàn bộ nhưng nhớ giữ đường bay, ông ta nói.
David đến nói với Ryder đang cầm tay lái rồi trở lại bàn đồ thị ngay. Hai phút sau lại có tín hiệu trả lời:
Cho phép không, lập lại không, cấm hạ cánh xuống phi trường Luân đôn vì chưa rõ kinh nghiệm của phi hành đoàn Uùc. Bay tiếp đến phi trường Driffield và cho biết giờ đáp phỏng định.
David đỏ mặt giận dữ:
Tôi nghĩ từ này Đại tá nên đảm trách việc này. Anh ta nói.
Đây chỉ là một công việc được thổi phòng. Đại tá Cox bình tĩnh trả lời.
Có người nào đó ở ngoài muốn làm cho vụ này rắc rối thêm. Nghỉ một chốc ông ta nói tiếp: Hãy gửi văn bản này: Phi hành đoàn đã được huấn luyện đầy đủ về những thiết bị hạ cánh do công ty Hàng không Anh quốc đào tạo, đã đạt những tiêu chuẩn của công ty này. Yêu cầu được đáp xuống phi trường Luân đôn.
Hai sĩ quan ngồi ở bàn tọa độ, yên lặng chờ đợi trả lời. Chốc sau lại có văn bản:
Tên của phi hành đoàn không thấy xuất hiện trên danh sách bay hằng ngày. Cho phép không, lập lại không, ưu tiên đáp xuống Luân đôn bị hủy bỏ vì điều kiện thời tiết bắt buộc. Tiếp tục bay đến phi trường Driffield, cho biết giờ định hạ cánh.
Frank Cox nói:
Thay đổi đường bay đến Driffield, Nigger, cho họ biết giờ định hạ cánh.
Sĩ quan hoa tiêu yên lặng đi tới bàn tọa độ và bắt đầu đổi hướng bay, anh ta ra hiệu và hướng dẫn cho Ryder đang điều khiển tay lái. Sau đấy anh ta thay phiên cho Ryder và ngồi vào ghế cơ trưởng. Anh ta không còn nổi giận nữa, vì anh ta biết rằng đối với bản thân và ngay cả phi hành đoàn chẳng cần phải khiếu nại. Anh ta cũng biết rằng Bộ chỉ huy huấn luyện của Công ty Hàng không Anh quốc ở Hurn, trong việc kiểm tra, đã bảo đảm năng lực của toàn thể phi hành đoàn. Đây có lẽ là một việc trọng đại hơn thế. Đây cũng có thể là một hành động nhỏ nhen, vụn vặt, của một giới chức có tầm cỡ muốn nói với Nữ hoàng rằng:
À, nếu bà yêu cầu được bay với bọn thuộc địa, bà cũng nên chịu đựng vài sự khó chịu, phải không? Tại sao bà lại không để yên cho Liên hiệp Anh và tại sao lại không ở mãi trong nước Anh, có hơn không? David cũng thắc mắc tại sao Huân tước Coles lại có một đầu óc vụn vặt, nhỏ nhen như vậy?
Sau lưng David, Frank Cox đã lấy bức điện tín và cầm theo. David ở trong ghế nhìn với theo, qua cánh cửa mở vào buồng của Quận công anh ấy thấy Cox gõ cửa buồng Quận công. Anh ta mím chặt môi khi nghĩ đến cuộc đón tiếp Nữ hoàng trở về nước Anh như thế này đây và trở lại công việc với trái tim nặng trĩu. Chẳng có một chiến đấu cơ nào dàn chào Nữ hoàng, cũng chẳng có Thủ tướng đứng đợi trên đường băng để đón chào Nữ hoàng. Có một điều gì đó rất khác lạ.
Chàng bay thêm mười dặm cho gần tới Driffield, và cao độ hai ngàn năm trăm bộ, thì phi trường đã hiện ra trước mặt, phi đạo và phụ đạo đèn sáng lên. Driffield là căn cứ của không lực Hoàng gia, và David cứ thắc mắc là tại sao họ chọn nơi đây làm nơi hạ cánh, trừ phi đây chỉ cách ga xe lửa chính của York bốn mươi dặm và như thế giảm được tối đa sự nhọc mệt và bất lợi cho Nữ hoàng sau chuyến công du dài ngày. Anh ta cho Ceres bay một vòng nhỏ, cách hàng rào phi trường ba dặm là hạ cánh xuống phi đạo ngay, từ Canberra đến mất hai mươi mốt tiếng rưỡi.
Anh ta cho máy bay đổ lại trên đường băng nơi có một nhóm nhỏ sĩ quan đang đợi chờ bên hai chiếc xe hơi và anh cho máy bay tắc máy. David ra khỏi ghế bay, đội nón lên, sửa lại quân phục và đi thẳng đến phòng khách. Nữ hoàng vừa bước ra khỏi buồng riêng, quay lại nói với David:
Thành thật cám ơn cơ trưởng Anderson. Thật là một chuyến bay dễ chịu.
David trả lời:
Tôi rất tiếc phải đổi nơi hạ cánh, thưa ngài. Tôi nghĩ cũng làm ngài bận tâm. Chúng tôi hứa chắc chuyện này sẽ không xảy ra nữa lần tới!.
Nữ hoàng ôn tồn nói:
Đừng buồn lòng. Ta biết cơ trưởng cũng không thể làm gì hơn! Cám ơn cơ trưởng đã giúp ta một chuyến đi an toàn và thú vị. Nữ hoàng quay đi và rời máy bay.
David dừng lại bên ghế của Rosemary và giúp nàng mang chiếc túi xách, rồi đi theo nàng xuống đến đường băng. Trong đêm tối, cơn gió lạnh buốt từ Bắc hải thổi tốc vào hai người. Chàng nói:
Em sẽ về Luân Đôn với Nữ hoàng chứ?
Có lẽ vậy, anh Nigger ạ! Nàng trả lời: Em nghĩ là họ sẽ cho xe đưa tới York cho kịp chuyến tàu lửa mười giờ hai mươi. Anh sẽ làm gì?
Anh sẽ ở lại giữ máy bay. Chàng trả lời: Ngày mai anh sẽ bay về White Waltham nếu còn được phép bay ở nước Anh.
Nàng buồn buồn nói:
Giá em đến được với anh. Đến được ga King’s Cross chắc cũng phải ba giờ sáng.
Chàng phải rời nàng ngay để còn sắp xếp cho phi hành đoàn đưa máy bay vào nhà chứa máy bay. Chàng ở lại với anh em cho đến khi máy kéo đưa chiếc Ceres vào chỗ trú và đóng cửa lại. Rồi chàng đi vào nhà ăn sĩ quan của không lực Hoàng gia. Chàng thấy Nữ hoàng và Quận công đang dùng bữa tối trong tư thất của Tư lệnh không quân Hoàng gia. Đám tùy tùng còn lại dùng bữa trong nhà ăn sĩ quan. Đoàn xe chuyên chở cả phái đoàn đến ga York đã được ấn định lúc tám giờ bốn mươi lăm.
David cũng nói được vài lời với Frank Cox trước khi ông ta đi Luân đôn với đoàn tùy tùng. Đại tá nói:
Tôi sẽ điện thoại cho anh vào sáng mai. Có lẽ cũng phải đến mười một giờ, ngay khi đã sắp xếp ổn thỏa cho chuyến bay của anh về White Waltham.
David hỏi ngay:
White Waltham còn mở cửa cho chúng ta chứ, Đại tá.
Tôi đâu có nghe là không mở cửa. Thế anh có biết chuyện gì à?
Không. Tôi chỉ lo thôi.
Tôi nghĩ mọi việc sẽ êm đẹp. Anh cũng đừng nên quá lo làm gì, Nigger ạ. Đấy chỉ là điều bực mình nhỏ nhặt. Chẳng làm gì được anh và phi hành đoàn của anh đâu. Nếu họ thật sự không biết, họ sẽ tìm ra tất cả khi hỏi công ty hàng không Anh quốc. Ông ta dừng lại một chút rồi nói tiếp:
Không, có điều gì hơi khác lạ, nhưng lại là việc của Nữ hoàng. Nếu tôi là anh, tôi sẽ quên đi tất cả.
Cũng phải lâu lắm tôi mới quên được. Viên phi công buồn buồn nói:
Ngài là Nữ hoàng của tôi mà cũng là của anh. Tôi chẳng phải là thằng mất gốc chết tiệt đâu!
Đại tá nhìn David hơi sửng sốt:
Đấy cũng là một quan điểm mà tôi chưa nghĩ tới.
David nói:
Cũng đã đến lúc có người nghĩ tới rồi! Nữ hoàng giờ đây đã mệt đừ, thế mà có thằng lai căn mất gốc nào lại bắt Ngài phải đi thêm sáu giờ đồng hồ nữa, vừa xe vừa tàu, giữa đêm khuya, chẳng nghĩa lý gì cả. Tôi chẳng thích như thế. Cao ủy của chúng tôi cũng chẳng thích như thế. Và Canberra cũng chẳng ưa gì khi nghe câu chuyện đã xảy ra.
Im lặng một lúc, rồi Đại tá không đoàn trưởng nhìn lên, mỉm cười nói:
Thật khó nhỉ?
Anh chàng người Uùc nói:
Anh nói đúng, khó thật. Không phải tất cả những thằng mất gốc đều là quân chết tiệt. Tôi nói như thế chỉ là một hình ảnh của ngôn từ.
Phần lớn dân Uùc cũng là dân lai căn mà! Đại tá Cox nói: Vậy chỉ nên nói bọn chết tiệt đáng phỉ nhổ mà thôi.
Hai người cùng cười bên ly cà phê.
Ngày tiếp theo, David lái chiếc Tare đáp xuống phi trường White Waltham. Anh ta cũng thấy Dewar với chiếc Sugar ở đấy, có hơi ghen tức với phi hành đoàn vì được bay vòng quanh thế giới nhưng cũng lo lắng khi nghe câu chuyện xảy ra như thế. David đã nói chuyện qua điện thoại với Frank Cox và được lệnh là chiếc Tare phải chờ đợi một cuộc kiểm tra chuyên môn do các nhà sáng chế trong vòng ba ngày, công việc này cũng do hãng chế tạo điều hành. Hôm sau, David bay máy bay về Hatfrield vào buổi sáng và giao máy bay cho xưởng de Havilland và trở về White Waltham bằng đường bộ.
 

rko_4180

New Member
Ðề: Mùa mưa_Nevil Shute

Chiều hôm đó, chàng nhận được điện thoại từ phủ Cao ủy hẹn cuộc gặp giữa chàng và ông Harry Ferguson chiều hôm sau. Chàng đã có những cuộc hẹn như thế nhiều lần với Cao ủy trong suốt thời gian làm việc cho Phi đội Nữ hoàng để báo cáo công việc và những khó khăn gặp phải trong khâu tổ chức hay trình bày với Cao ủy về chiếc Tare ở phi trường White Waltham Cao ủy muốn chàng tường trình chuyến bay đến và đi từ Uùc cũng là chuyện thường tình. David đã điện thoại cho Rosemary và mời nàng dùng bữa tối cùng chàng tối hôm đó và hẹn sẽ đón nàng ở căn hộ quen thuộc vào lúc bảy giờ.
Oâng Fergreson, người hơi đẫy đà, mặc bộ vét xám, chào và mời David ngồi vào chiếc ghế bành kê bên cạnh bàn giấy. Khi David trình bày xong, ông ta muốn biết tất cả về chuyến bay, đặc biệt ông ta lưu ý đến đảo Christmas. Oâng ta hỏi:
Đảo ấy như thế nào? Tôi chưa bao giờ đến đó. Tôi nghĩ rằng cũng ít người biết đến.
Viên phi công nói:
Đấy là một nơi khá đẹp. Chỉ là một hòn đảo san hô vòng. Chuyến đi cũng bình an, nhưng việc tiếp tế nhiên liệu quá cổ hủ. Nếu chúng ta thường xuyên đến đấy, nên có những bồn chứa nhiên liệu thích hợp và máy bơm cùng ống dẫn xăng. Dầu sao chúng cũng cần thiết cho mục đích chiến lược.
Nhớ viết cho tôi một bản tường trình, anh David nhé!
David ghi vào sổ tay.
Ông Fergreson lại nói tiếp:
Tôi chưa bao giờ có mặt trên một đảo san hô nào. Một ngày nào đó, tôi phải đi cho biết. Thế Nữ hoàng trú chân ở đâu?
Trong tư thất của ông Quận trưởng. David kể cho ông ta nghe mọi chuyện và nói cho ông ta biết là Nữ hoàng hình như rất thích thú về ngày nghỉ lại trên đảo Christmas.
Sau đó chàng nói tiếp:
Nếu Nữ hoàng có ý định đến thăm Uùc nhiều lần từ Canađa, Nữ hoàng sẽ ghé lại đảo thường xuyên hơn, vì đấy là nơi thuận lợi cho việc tiếp tế nhiên liệu, nên Ngài rất muốn một cơ ngơi nhỏ ở đấy của riêng ngài?
Ông Fergreson nhướng mày:
Thật à?
David kể cho ông ta nghe câu chuyện nghe lóm được giữa Nữ hoàng và Quận công. David nói tiếp:
Đường bay từ Ottawa đến Canberra quá xa. Ngay cả chiếc Ceres, cũng phải mất mười tám giờ bay và với tuổi Ngài đường bay như thế quá xa nếu không có chỗ nghỉ chân. Chín mười tiếng đồng hồ căng thẳng cũng quá đủ. Nếu Nữ hoàng có được một biệt thất nhỏ ở đấy, chỉ nhỏ thôi với hai phòng ngủ, có lẽ ngài sẽ sử dụng nó làm chỗ nghỉ ngơi trong một ngày trong lúc chuyến bay gián đoạn. Không hiểu Ngài có muốn đi con đường ấy thường xuyên không?
Có thể lắm. Theo sự sắp xếp mới, cứ ba hay bốn tháng, ngài đi theo con đường ấy là thuận lợi hơn cả.
David không muốn hỏi những sự sắp xếp mới là gì nên nói tiếp. Tôi nghĩ rằng chính phủ liên bang sẽ bỏ tiền ra để dựng một căn nhà nhỏ bằng ván cây.
Cũng có thể lắm. Cao ủy nói: Ai lo phục vụ ngài?
Viên phi công trả lời:
Ngài cần một nam và một nữ tiếp viên không nằm trong cơ số của máy bay. Và như thế là đủ rồi vì Ngài đa õcó nô tì đi theo hầu.
Hai người thảo luận với nhau một lúc, sau đó vị cao ủy nói:
Anh làm ơn viết những điều này vào bản tường trình nhé ! Tuy là tiểu tiết nhưng tôi cần biết. David ghi vào sổ tay. Thế chuyện lộn xộn xảy ra là gì mà anh phải đáp xuống vùng này? Chuyện anh phải đổi hướng bay đến Yorkshire?
David kể lại cho ông ta nghe. Cuối cùng, ông ấy nói:
Tôi hiểu. Phi trường Luân đôn là phi trường dân sự và họ đòi hỏi phi công phải có chứng chỉ ưu hạng trong việc đáp xuống vào thời tiết xấu. Những chứng chỉ này chỉ cấp cho những phi công dân sự. Họ đòi hỏi anh cũng thế.
Viên phi công trả lời:
Đúng vậy. Phi công quân đội không sử dụng phi trường Luân đôn như lệ thường vì họ không có bằng lái dân sự. Đấy cũng là lý do bắt buộc chúng tôi đáp xuống Driffield đó là phi trường của không lực hoàng gia, vì chúng tôi thuộc không lực Hoàng gia Uùc.
Thế không có phi trường quân sự vào gần Yorkshire sao?
Viên phi công trả lời:
Tất nhiên là có rồi, hàng chục nữa là khác.
Thế họ có biết anh được hàng không dân dụng Anh quốc đào luyện theo tiêu chuẩn của phi hành đoàn chăng?
Dĩ nhiên là phải biết – David trả lời – Chúng tôi cũng đã nói rõ trong bức điện văn, đang còn bản lưu đây. Anh ta đưa qua cho vị cao uỷ đọc – David nói tiếp – Dầu sao hàng không dân dụng Anh quốc cũng không huấn luyện cho chúng tôi hạ cánh ở Hurn. Chúng tôi tự huấn luyện lấy.
Oâng Ferguson để những bản lưu xuống và nói:
Tôi hiểu rằng có thằng nào đấy hơi cù lần
Chàng phi công nói:
Có lẽ vậy. Anh Frank Cox nói là có người nào đó đứng ngoài cố làm cho tình thế khó khăn và làm cho Nữ hoàng mệt chơi. Nó muốn dạy cho Nữ hoàng một bài học là không đến các thuộc địa nữa.
Tôi hiểu.
Nghỉ một lúc, vị cao uỷ nói:
Anh nghĩ về nước Anh như thế nào? Giờ thì anh đã có quá nhiều kinh nghiệm về một nước như thế!
David cười nói:
Công an cảnh sát ở đây tuyệt vời thật – rồi chàng nói thêm có vẻ trịnh trọng – Thật ra cũng chẳng có gì đáng phàn nàn, thưa ông. Đây cũng là lần đầu tiên chúng tôi cảm thấy mất vui. Tôi không nghĩ rằng họ cố ý nhắm đến chúng tôi, chỉ là một phi hành đoàn!
Oâng Ferguson có vẻ suy tư nói:
Không đâu, tôi nghĩ rằng họ muốn chơi với cấp cao hơn.
Sau khi đã thảo luận về những công việc thường nhật, David rời toà đại sứ Úc và đi bộ suốt con đường sông dẫn tới câu lạc bộ của chàng. Một cơn lạnh buốt đột ngột ập đến và cơn mưa phùn như sương rây nhẹ làm tê tái, sau niềm vui ấm áp của Canberra. Dân chúng trên đường phố trông phờ phạc và co ro, so với sức khỏe hồng hào của người dân nước Úc, nhưng trông họ cũng có dáng vẻ trầm tư và cương quyết luôn luôn là một điều mới lạ đối với David. Một lần nữa, anh ta lại bị sự ray rứt giữa sự ganh tị và ngưỡng mộ đối với họ, những người này không phải là những con người không đáng kể. Chính họ đã chế tạo ra chiếc Ceres, hàng ngàn phát minh kỳ lạ khác mà xứ sở của anh ta chưa thể làm nổi. Anh ta đi đến câu lạc bộ trong dãy phố Pall Mall và ngồi xem báo hàng tuần để theo dõi thật sát tình hình nước Anh trong những ngày anh ta đi xa. Rõ ràng là có điều gì đó đã xảy ra nên hạ viện mới đưa đề tài phiếu bầu nhiều thành phần ra thảo luận, đó là tin tức hàng đầu, nhưng không thể thu gom tất cả những sự kiện do các tuần báo đăng tải. Với ly cà phê, anh ta ngồi đọc qua các đề mục. Trong các báo của đảng bảo thủ, người ta đề cập nhiều đến việc cải cách phiếu bầu. Trong các báo Lao động có những bài báo chỉ trích gay gắt về cố gắng táo bạo của nhóm Tories muốn hủy bỏ dân chủ và trở lại hình thức cai trị cổ hủ đặc quyền, đặc lợi. Toàn là những bài báo không mấy vui, một bản cáo trạng về sự mất đoàn kết về những nguyên tắc căn bản mà David nhớ lại trong chính đất nước của mình. Bỏ tờ báo xuống, anh ta thở dài với nỗi nhớ nhung quê nhà, ở phía Nam bán cầu mà anh vừa mới chia tay.
David gọi điện thoại về căn hộ của Rosemary vào lúc bảy giờ. Nàng đưa chàng tới một nhà hàng ăn thật nhỏ và kín đáo ở chợ Shepherds, ở đấy các bàn ăn sắp xếp một khoảng cách xa để những khách quen có thể nói chuyện kín đáo, ở đấy chủ nhân phô bày tài sắp xếp tuy đơn giản nhưng thích hợp với khung cảnh bị hạn chế và ở đấy số tiền mà khách phải trả cũng xứng với sự kiến tạo đặc biệt này. Chàng đưa áo choàng của nàng cho nhân viên phục vụ và ngồi xuống gọi một ly nước sê-ri và một ly nước cà chua.
 

rko_4180

New Member
Ðề: Mùa mưa_Nevil Shute

Chàng hỏi nàng:
Chuyến đi về Luân Đôn thế nào hả em?
Nàng trả lời:
Bị sương mù nên mãi ba giờ chiều mới đến được ga King’s Cross
Chắc là đi toa giường nằm?
Nàng lắc đầu:
Họ không thể sắp xếp kịp anh ạ. Cả đoàn chỉ đi toa thượng hạng thôi. Khi đến Luân Đôn trông Ngài có vẻ mệt mỏi lắm!
Chàng cắn môi nói:
Nghĩ về chuyện ấy mà anh thấy đau! Thật ra đâu phải cần làm như vậy.
Nàng trả lời:
Đâu phải lỗi tại anh. Sáng nay có bản phúc trình gửi đến cơ quan em của Bộ hàng không. Chẳng có gì vướng bận đến cá nhân anh.
Anh biết thế, nhưng anh vẫn đau. Em có biết tên da đen nằm trong đống gỗ ấy là ai không?
Nàng lưỡng lự một chút rồi nói:
Hãy quên đi anh ạ! Đó không phải là chuyện liên quan đến chúng ta.
Em nói phải – hai người ngồi yên lặng. Chàng thình lình hỏi – Có ai đến đón Ngài ở ga King’s Cross không em?
Hoàng tử Charles và công chúa Anne – nàng trả lời – Vào buổi sáng sớm mà ăn mặc diện như thế nên cả hai đều rất lịch sự.
Chàng sốt ruột hỏi:
Thế không có Thủ tướng à? Nội các có ai đến chăng?
Không anh ạ!
Chàng im lặng, đến giờ món hors d’oeuvres do bồi bàn bưng ra. Chờ cho chàng phục vụ đi khỏi, David nói:
Anh đọc hết các bài báo trong tuần xem thử họ nói gì lúc chúng ta đi vắng. Hình như cũng có nhiều liên hệ đến phiếu bầu nhiều thành phần.
Nàng gật đầu:
Em nghĩ là đúng đấy!
Chính quyền có vẻ cay cú
Nàng trả lời:
Đúng vậy. Thông thường người ta hay cay cú khi một điều gì mà người ta tin tưởng tuyệt đối bị dẹp bỏ. Chính quyền thì vẫn khư khư nguyên tắc cũ, một người một phiếu bầu. Họ cho như vậy là trung thực.
Chàng lại hỏi:
Tình hình có gì trầm trọng không em?
Em nghĩ là có – nàng trả lời – Dầu sao, em không tin rằng vấn đề có thể đi xa hơn được.
Có điều gì ngăn cản chăng?
Em không biết nữa. Có lẽ do bản chất con người.
Đáng ra chàng đã đưa ra một lời chỉ trích độc địa, sâu cay về chuyện ấy nhưng chàng đã dừng lại được vì Rosemary là người Anh và chàng đã yêu nàng. Trong lúc hai người yên lặng dùng bữa, chàng suy nghĩ về những gì nàng nói, về mục tiêu và sự quyết tâm của những con người này. Có thể là nàng đúng, có thể là người Anh thật sự có bản chất, cuối cùng đã dẫn dắt họ tránh những khó khăn. Chàng cũng không để tâm đến việc hỏi nàng lúc ấy nàng có ngụ ý gì, nên chàng đã lái câu chuyện và kể cho nàng nghe về dự định xây một biệt thất nhỏ trên đảo Christmas để Nữ hoàng sử dụng khi Ngài đến đấy một lần nữa
Anh sẽ viết đề nghị này trong bản tường trình của anh gửi cho Cao uỷ và Cao uỷ sẽ tán thành – chàng nhìn nàng dò hỏi – Em có nghĩ rằng việc ấy thực hiện được chứ?
Cô nàng nhanh nhẩu trả lời:
Anh Nigger à, Nữ hoàng thích lắm đấy! Chắc chắn đấy là điều bất ngờ nếu chính phủ Úc đề nghị, phải không anh?
Anh cũng nghĩ như vậy – chàng trả lời – Em có nghĩ rằng điều đó chưa phải lúc nói ra nếu như anh cứ viết vào bản tường trình?
Không, em không nghĩ như vậy. Giờ đây Ngài đang gặp khó khăn. Một việc nhỏ nhặt như thế mà có kết quả thì đều có ý nghĩa đối với Ngài. Cứ nghĩ rằng, có ai đó, ở đâu đó đang cố gắng làm cho Ngài đẹp ý cho dù ở phía bên kia của địa cầu hay ở giữa Thái bình dương.
Em có nghĩ rằng anh có thể trình bày chuyện này với ngài Cao uỷ Furguson bằng miệng không? Chỉ có điều là mình đã nói đến hai lần.
Nàng cười nói:
Cũng như mình đọc thánh kinh vậy. Em không thể hiểu tại sao anh không thể nói điều ấy khi gặp lại ông ta, dù sao thì ông ta cũng đã có thiện ý với việc ấy rồi!
Oâng ta hầu như ngày nào cũng nói chuyện với Canberra – viên phi công nói tiếp – Có lẽ ông ta cũng dàn xếp được một việc nhỏ nhặt như thế qua điện thoại.
Aên xong họ ngồi uống cà phê và hút thuốc. Cô nàng nói:
Ba em mới đến đây ngày hôm qua. Oâng cụ đã ở lại trong căn hộ của em, nằm trên giường bố trong phòng khách. Oâng cụ cũng ít khi đến Luân đôn nhưng tuần này em không thể về Oxford được, em bận trực. Ba em muốn biết chuyến đi vừa rồi thế nào.
Oâng cụ có trở về ngay không? – David hỏi
Nàng gật đầu:
Ba em đã trở về sáng nay
Anh cũng muốn, lúc nào đó, gặp ba em.
Thì em cũng muốn vậy. Em muốn mời ba em ở lại, đi ăn tối với chúng mình, nhưng ông cụ phải về ngay, có lẽ vì bận dạy phụ đạo – cô ta dừng một chút rồi nói tiếp – Đêm qua Ba em đã nói chuyện rất nhiều trước khi đi ngủ. Cũng có nhiều chuyện đáng nói lắm.
Chuyện gì nào?
Đủ thứ chuyện – nàng trả lời mập mờ – Về cuộc khủng hoảng đáng nguyền rủa này. Về nước Anh. Oâng cụ cho rằng dân chúng nước này đang dần dần chuyển đổi để tốt hơn.
Chàng nhăn trán lại nói:
Tốt hơn à?
Nàng gật đầu:
Oâng cụ nói rằng tất cả bọn vô dụng bị loại dần và từ nay chúng sẽ vắng bóng một thời gian dài – nàng vừa quậy cà phê có vẻ tư lự – Dĩ nhiên là tuổi của ba em là sáu mươi ba, một thời gian dài để hồi tưởng, ông đã tham gia đệ nhị thế chiến trong lực lượng Thiết giáp hoàng gia. Đêm qua ông cụ đã nói nhiều về những điều mắt thấy tai nghe khi còn trẻ. Về lớp người bỏ ra nước ngoài khi Pháp và Hà Lan bị xâm chiếm và lớp người còn ở lại.
Thế à?
Nàng gật đầu nói:
Oâng cụ nói khi một đất nước bị quân thù xâm lăng, những người đầu tiên bỏ đi là những người rất thông minh, yêu nước, can đảm. Họ ra đi vì đã quyết định tiếp tục chiến đấu trong lực lượng đồng minh nơi có chiến trường tốt hơn. Nhưng sau lực lượng ấy là những kẻ tị nạn sợ chết, ích kỷ và những kẻ chỉ nghĩ đến làm giàu, những con người đó đâu có chiến đấu cho quê hương đất nước hay một lí tưởng nào khác. Oâng cụ đã không xài được những người tị nạn. Oâng cụ nói những người ấy đi rồi, nước Pháp đã trở nên tốt hơn. Người dân ở lại dưới chính quyền Đức hầu hết vẫn vững vàng, kiên định, họ sẽ không để cho kẻ xâm lăng đuổi ra khỏi đất nước, họ vẫn gan dạ và đầy kinh nghiệm – dừng một chút nàng nói tiếp – Oâng cụ nói rằng đó cũng là những gì đang xảy ra ở nước Anh trong suốt hai mươi năm qua. Tất cả những con người sợ chết, ích kỷ cũng được loại bỏ.
Chàng thích thú liếc nhìn nàng:
Đấy cũng là một ý kiến mới mẻ. Có phải ý ông cụ muốn nói nửa dân số Anh cách đây hai mươi năm tệ hơn bấy giờ.
Nàng trả lời:
Oâng cụ nói như thế đấy. Oâng còn để ý điều ấy ở lớp thanh niên đang bước vào ngưỡng cửa Đại học. Lớp người ấy bây giờ giỏi hơn cách đây ba mươi năm, khi ông cụ trở về trường Oxford sau thế chiến thứ hai. Họ có cá tính nhiều hơn, họ không “ngồi chờ sung rụng” như thói quen cũ. Đấy là nhận xét của ông cụ.
Chàng phi công góp ý:
Nếu đó là sự thật kể cũng lạ. Ba em đâu có dại gì, ổng cũng từng chen vai thích cánh với nhiều người thuộc giới thượng lưu trí thức ở Oxford và vẫn hòa đồng. Đôi lúc sự bất hạnh làm cho con người sành điệu hơn, khôn ngoan hơn và mềm dịu hơn. Điều đó cũng có thể xảy ra đối với một đất nước, giống nhau cả mà!
Chàng lại hỏi:
Em có nghĩ rằng trong lúc lộn xộn này cần làm một điều gì đó về phiếu bầu nhiều thành phần không?
Nàng trả lời:
Nên lắm chứ. Em nghĩ ông Iorwerth Jones đang gặp phải khó khăn, ông ta không lường trước được
 

rko_4180

New Member
Ðề: Mùa mưa_Nevil Shute

Chương 8

Những ngày sau đó, David ít gặp Rosemary. Anh cùng phi hành đoàn đến Hatfield đem chiếc Tare về White Waltham và cùng với Frank Cox bắt đầu công việc lấy cho được các chứng chỉ hạ cánh xuống phi trường dân sự của Anh quốc để được phép đáp xuống phi trường Luân đôn trong trường hợp khẩn cấp. Cả hai người cùng đi đến Bộ Hàng Không và được một quan chức cấp trung hiền lành tiếp đón. Ông này đề nghị rằng theo những điều lệ của nội qui thì những sĩ quan Úc và Canada trong lúc phục vụ đội bay Nữ hoàng phải bỏ quân hàm để được tái xác nhận là những phi công dân sự tùy theo từng loại chứng chỉ, tất cả phải mất độ sáu tuần để tiến hành thủ tục. Dewar và David cùng phát biểu là điều này không mấy cần thiết, nhưng vị quan chức ấy thành thật xin lỗi là không thể làm gì hơn được vì đấy là qui định của Bộ. David và Dewar bỏ đi và trao quyền quyết định cho Cao ủy phủ.
Vài ngày sau, hoàn toàn bất ngờ, họ được gọi đến Bộ một lần nữa. Lần này họ được một quan chức cao cấp hơn tiếp, đó là Bí thư thứ hai. Ông ta tiếp đón hai người rất ân cần và nói rằng ông vui mừng thông báo những văn bằng của hai người đã được điều chỉnh. Trên bàn làm việc của ông ta đã để sẵn những văn bằng dân sự của tất cả nhân viên của phi hành đoàn Úc và Canada. Bằng phi công đệ nhất hạng cho Chỉ huy trưởng phi đội Dewar và Chỉ huy trưởng phi đội Anderson, một tập văn bằng phi công dân sự, chuyên viên truyền tin và kỹ sư cơ khí cho tất cả phi hành đoàn. Các sĩ quan tiếp nhận các giấy tờ, có hơi ngạc nhiên, cuối cùng họ rút lui về Câu lạc bộ Hàng không Hoàng Gia có mang theo những giấy tờ này.
David nói :
Trong giọng nói đã có chút ít thay đổi. Nguyên do vì sao?
Dewar nói :
Trời mà biết ! tôi đã hỏi Frank nhưng anh ta vẫn giữ bí mật. Tôi nghĩ là họ sợ một cái gì đó. – Ngừng một chút, Dewar lại nói : Anh ta có nói với anh là tôi sẽ đi Ottawa nữa không?
Không. Thế bao giờ anh đi?
Đêm mai. Tôi chở Hoàng tử Charles và toàn gia quyến của ông ta.
David nhìn Dewar hỏi :
Hoàng tử đi bao lâu?
Tôi đâu biết. Đêm mai mình cất cánh lúc tám giờ với Hoàng tử và Công nương, ba đứa con, người hầu nam và nữ, bí thư và ba phần tư tấn hành lý. Sau đấy tôi phải đợi lệnh.
Trên báo đâu có đăng tin gì phải không?
Không ! Hãy giữ bí mật đấy!
Dĩ nhiên.
Đó là ngày mười tháng chạp. David tối hôm sau cũng có mặt với Ryder để chứng kiến chiếc Sugar cất cánh và yểm trợ nếu cần. Chuyến bay không bị trở ngại. Hoàng tử xứ Gale đến với gia đình và đoàn tùy tùng trên ba chiếc xe hơi và bước ra trên đường băng tối tăm và đầy gió bên cạnh chiếc máy bay và lên ngay ghế ngồi. Cửa máy bay đóng lại, động cơ bắt đầu chuyển động và chiếc Sugar tiến về phi đạo. Frank Cox và David đứng nhìn ngọn đèn lái nhấp nhánh trên bầu trời trên đường hướng về Canada và sau đó họ trở lại với sự sáng sủa và ấm áp của văn phòng làm việc.
Vào lúc ấy Frank Cox mới quay qua nói với David :
Lần tới sẽ là anh, Nigger ạ!
Thế đã sắp xếp gì chưa? David hỏi.
Không nhiều thì ít. Gia đình Havants sắp đi Kenya, đến Nyeri.
Lúc nào?
Thứ sáu hoặc thứ bảy. Chưa có ngày nhất định. Tôi đoán có lẽ thứ bảy.
David gật đầu :
Chúng tôi sẽ chuẩn bị. Ở lại bên ấy hay trở về liền?
Trở về liền – Đại tá Không đoàn trưởng trả lời – Có thể có công tác khác nữa sau chuyến bay ấy.
Viên phi công cười :
Một chuyến đã làm người ta lo rồi ! Chuyến đi Nyeri. Còn một chuyến nữa đi Nanyuki, phải không ?
Phải. – Hai người lại trở về với hồ sơ, và Cox lấy ra bản họa đồ và những chi tiết về Nanyuki – Anh đã đến đấy chưa ?
David lắc đầu :
Chưa. – Anh ta đang nghiên cứu những chi tiết của phi đạo, độ cao và vùng đất chung quanh.
David nói :
Ban ngày mà đáp xuống đấy thì an toàn thôi. Nhưng vào giờ chúng ta hạ cánh là đêm rồi, bảy hay tám giờ. Nếu đáp lần đầu mà gặp thời tiết xấu hoặc ban đêm, thì tôi sẽ không đáp đâu. Thay vào đấy, tôi nghĩ ta nên đáp xuống Nairobi.
Họ phải mất mười lăm phút để nghiên cứu đường bay. Cuối cùng viên phi công nói :
Thế này thì được, cất cánh lúc bảy giờ sáng. Nếu quá sớm thì sẽ đáp đêm ở Nairobi và như thế họ có thể ở lại đêm ở đấy và hôm sau sẽ đi bằng xe hơi.
Frank Cox ghi nhanh các con số trên lưng một bì thư, ông ta nói :
Họ có thể rời khỏi đây hơi tối một chút và đi chuyến bay đêm. Cất cánh lúc mười một giờ và đến đấy chín giờ sáng. Như thế tiện hơn cho họ vì bọn trẻ được ngủ suốt đêm.
Đi cả gia đình à?
Đại tá gật đầu.
Viên phi công nhìn đại tá cười :
Chuyến trước Hoàng tử và gia đình, chuyến sau Công chúa Anne và gia đình. Giống như di tản toàn bộ.
Có thể như thế, – Đại tá Cox nói – chúng ta chỉ biết vậy thôi !
Vâng, chỉ là thông tin thôi mà ! Bay ngày bay đêm tùy vào họ, nhưng tôi thích bay ngày hơn.
Đại tá trả lời :
Tôi sẽ cho anh biết đúng lúc.
David nói :
Mấy chàng trai lại thích đi phép trong dịp lễ Giáng sinh vì hầu hết họ đều có quan hệ trong xử sở này.
Cox lắc đầu :
Chẳng có nghỉ phép Giáng sinh cho phi hành đoàn của anh đâu, Nigger ạ! Thật ra, tôi không nghỉ như vậy, vì cứ tưởng anh có công tác khác cơ. Thôi, xin lỗi nhé !
Viên phi công trả lời :
Chẳng quan trọng gì đâu ! Thà họ có việc mà làm hơn là ngồi quanh đâu đó. Thế chuyến bay đến đâu ?
Tôi cũng chưa rõ. Tôi nghĩ là họ chưa quyết định.
Sáng hôm sau giới báo chí được thông báo là Hoàng tử và công nương xứ Gale cùng gia đình sẽ đi nghỉ Giáng sinh ở Vương cung Gatineau, nơi đấy George và Alice sẽ được học bài vở lòng về trượt tuyết. Tờ Thời báo, trong mục bình luận có nói đến kết quả đáng vui mừng trong những quan hệ của Liên hiệp Anh qua những động thái nội bộ của Vương triều từ nước này đến nước khác. Tuy nhiên, người ta chẳng bình luận về cuộc thăm viếng sắp đến của Công chúa và Quận công Havant đến Kenya.
Hôm đó là thứ năm, David điện thoại cho Rosemary ở trong cung và mời nàng cùng ăn tối với chàng. Chàng nói:
Chẳng còn bao lâu nữa anh sẽ đi xa, thế tối nay gặp nhau có được không?
Nàng trả lời :
Chỉ là chuyện anh sắp đi thôi, anh Nigger ? Công việc ở đây không hở tay. Đêm qua mãi đến hơn mười giờ, em mới về nhà.
Ôi trời ! – Chàng nói – Chắc là em mệt lắm nhỉ ?
Không sao đâu anh ạ – nàng nói tiếp – Em nói làm sao, nhỡ khi không tới được để ăn cùng anh ở tiệm Mario, một cửa hàng trong khu Shepherds Market.
Chàng hỏi :
Một mình em, em làm gì được nào ?
Chàng lại nói :
Anh cũng nấu được nhưng anh muốn tận mắt xem em làm việc. Em có thích, chẳng cần phải gọi món ăn, anh đem đến vài lon đồ hộp và nấu cái gì đó trong lúc chờ đợi em. Anh ở lại không lâu đâu !
Ồ, anh David, ý anh hay đấy ! Thế thì em chẳng phải lo về muộn. Anh nấu được chứ ?
Chàng trả lời :
Dĩ nhiên là được. Thế làm sao anh vào được nhà ?
Nàng nói cho chàng biết có một người trông nom nhà cửa ở tầng dưới, giữ chìa khóa :
Em sẽ điện thoại cho cô ấy và bảo cô ta để cho anh vào, – Nàng nói tiếp – “Em cố về trước bảy giờ nhưng không hiểu có được không. Đừng đọc tất cả thư tình của em, nghe anh !
Dĩ nhiên là anh sẽ đọc. Ít có cơ may cho thằng nhỏ như thế này.
 

rko_4180

New Member
Ðề: Mùa mưa_Nevil Shute

Chàng lái xe lên Luân đôn, trời cũng đã về chiều, với một vali đầy cả đồ hộp mà chàng đem về từ Úc trên chiếc Ceres, chàng ghé lại cửa hàng Fortnum và Mason trước khi về căn hộ của nàng. Cô giữ nhà cho chàng vào và chàng để cả chiếc vali lên bàn, nhìn quanh với vẻ hả hê, xem thật kỹ các tấm ảnh và sách của nàng. Mười lăm phút sau chàng thức dậy và cởi áo gió ra và bắt đầu tìm hiểu tiềm năng của căn bếp nhỏ. Chàng mở vali ra bắt đầu nấu bữa ăn, sau đó chàng tìm ra muỗng nĩa, khăn trải bàn và dọn bàn ra. Chút nữa thì chàng làm chuyện bất chính là hé nhìn một cách sượng sùng vào buồng ngủ của nàng nhưng chỉ ngang cánh cửa buồng và đóng lại vì mặc cảm tội lỗi.
Khi nàng hấp tấp về tới căn hộ thì thấy bàn đã dọn ra, lửa đỏ và một ly nước sêri đã chế sẵn và một đĩa trứng cá muối có bánh qui ở trên. Từ ngoài đường vào, nàng vừa lạnh vừa buồn ngủ, nhưng nhìn vào những thức ăn trên bàn cọng thêm cái mùi hấp dẫn từ nhà bếp tỏa ra và chàng Nigger Anderson, lớn con, da sậm, vừa vui vẻ vừa ấm áp. Nàng nói :
Ồ, anh Nigger ! Thật tuyệt vời ! Anh nấu được gì nào ?
Gà lôi áp chảo. Em có mệt lắm không ? – Chàng hỏi.
Giờ thì hết mệt rồi ! Em chưa bao giờ ngửi được một mùi thơm đến thế !
Chàng nói :
Mùi rượu vang đấy. Rượu vang Úc. Anh luôn luôn cho rượu vang vào món áp chảo. Nó làm mất đi các mùi khó chịu.
Và trứng cá muối. – Nàng đi vào phòng ngủ và ném cái áo choàng vào đấy, một lúc sau nàng trở ra, đôi mắt lóng lánh – Anh không thể tưởng tượng được trở về với căn phòng ấm áp ý nghĩa làm sao, lại có thêm bữa ăn đã dọn sẵn !
Chàng đưa cho nàng ly sêri và tự mình cầm ly nước cà chua. Hai người cùng ngồi ăn bánh qui và trứng cá muối. Chàng hỏi :
Hôm nay bận lắm phải không ? – Vừa nói vừa quan sát nàng đang ngồi đối diện, có nhiều nét mệt mỏi hiện ra trên đôi mắt, khóe môi nàng.
Nàng trả lời :
Hơi bận. Thôi đừng nói đến chuyện ấy nữa, anh Nigger ạ ! Đợi cho em nóng người lên đã.
Chàng gật đầu :
Khác hẳn với khách sạn Canberra. Theo anh nghĩ, chỉ cần một lúc sau là em ấm lại ngay.
Nàng cũng tán thành :
Ở đấy cũng tuyệt vời ! Cũng thật khó mà nhận ra chỉ mới cách đây mười ngày mình còn ở đấy, cũng là hoa như thế, trên cành như thế trong vườn. – Nàng nhìn ánh lửa bập bùng nói – Em yêu nước Anh. Nhưng em cũng nhận ra rằng có nhiều nơi khác người ta cũng có thể yêu như vậy.
Chàng nói :
Nước Anh vào mùa Xuân giống như trong truyện thần tiên. Anh sẽ tặng em một mùa xuân như thế. Nhưng vào thời điểm này, bất cứ người nào cũng có được mùa Xuân như anh hằng mong đợi.
Nàng vừa nhấp nước sêri vừa cười :
Anh mua nước sêri ở đâu ? Không phải thứ của em chứ ?
Chàng lắc đầu :
Đây là một loại rượu vang ở miền Nam nước Úc, giá rất rẻ. Em có thích không
Thích lắm. Em đoán là anh đã chở về nhiều thứ trên máy bay nhưng dấu đâu đó.
Chàng cười :
Anh đem về gần nửa tấn thực phẩm, đồ ăn và thức uống, anh bảo với nhân viên phi hành là mỗi người có thể mang theo năm mươi ký.
Yên lặng một chốc, nàng bảo :
Ngày mai anh sắp đi xa rồi, anh nhỉ ?
Ngày mai hay thứ bảy. Anh chưa được lệnh chính xác.
Nàng nói :
Có lẽ ngày mai. Thiếu tá Macmahon đã nói chuyện ấy với Huân tước Marlow trước khi em đi xa. Công chúa Anne muốn đi ngày mai, vào lúc trời tối.
Họ đã nói với Đại tá Cox chưa ?
Em chắc là họ đã gọi điện thoại khi em rời cơ quan.
David đồng ý và nghĩ rằng Ryder nếu được lệnh, đã thông báo ngay chiều hôm ấy cho phi hành đoàn. Vừa nghĩ như thế thì có tiếng điện thoại reo. Nàng đứng dậy trả lời và đưa ống nghe cho David, cười nói :
Của Trung úy Ryder đấy anh ạ !
Chàng nói chuyện với phi công phụ vài phút và sắp đặt công việc xong xuôi.
Chàng bỏ máy xuống. Nàng đứng bên cạnh, vừa uống xong ly sêri và nói :
Anh Nigger, mời anh dùng bữa. Món gà áp chảo của anh đang làm em thèm lắm đây ! Có lẽ em chảy nước miếng mất !
Hai người bắt đầu ăn món ấy, khoai tây và đậu Hà lan. Chàng rót cho nàng gần nửa chai rượu vang đỏ và ngồi xuống cùng ăn.
Chàng chuẩn bị cho nàng đào hộp, kem hộp làm món tráng miệng, cả hai thứ đều mua ở Úc. Nhìn món đào nàng nói :
Em nghĩ là anh nên để lại một ít cho chuyến bay ngày mai hay ngày mốt đi Kenya, anh David ạ !
Chàng cười :
Có lẽ thế. Sau khi đáp xuống Nanyuki rồi, anh sẽ bay tiếp đến Nairobi và để cho phi hành đoàn nghỉ lại đêm. Các anh phải tìm nơi nào đấy để lấy xăng trước khi bay về nhà. Ở Nanyuki không có điểm tiếp liệu. Ngày Chủ nhật, anh sẽ bay ban ngày và đến nơi trước khi trời tối.
Nàng nói :
Chẳng bao giờ xảy ra nữa đâu, anh Nigger ạ ! Một lần nữa cũng không !
David nói :
Thứ Hai vừa rồi, họ hối hả phát các bằng lái cho các anh. Chỗ em làm có nghe người ta nói gì không ?
Nàng trả lời :
Em có thấy gì đâu ! Ngày thứ bảy Quận công Philip đã cho mời Huân tước Coles và họ đã bàn thảo gần nửa tiếng đồng hồ. Dĩ nhiên em không được phép biết họ nói gì. Em chỉ thấy Huân tước Coles đi vào thì hớn hở nhưng khi ra thì chẳng vui chút nào.
Chàng phi công nói :
Khó khăn rồi đấy ! Hoàng tử Charles và gia đình thì ở Canada với ba phần tư tấn hành lý. Anh sẽ đưa Công chúa Anne cùng Quận công Havant và gia đình đến Nyeri, cũng với ba phần tư tấn hành lý.
Cô gái gật đầu.
Chàng nói tiếp :
Chỉ còn Nữ hoàng và Quận công ở lại nước Anh gánh trách nhiệm trực tiếp của Vương triều.
Rosemary ngồi quan sát chiếc đĩa trước mặt nàng nói :
Trước đây cũng đã xảy ra như thế rồi !
Chắc thế. Nhưng Frank Cox muốn anh trở về ngay khi đến Kenya, vì còn có công tác khác cho anh.
Cô gái nhìn chàng lo lắng :
Anh lo nghĩ quá nhiều, anh Nigger. Anh suy diễn làm gì cho mệt khi chưa phải lúc. Anh cần gì phải biết chuyện sắp xảy ra, đôi lúc không cần biết cũng tốt hơn.
Chàng mỉm cười nói :
Anh đâu có tò mò những bí mật của Hoàng gia. Anh chỉ làm những điều người ta bảo phải làm đúng lúc và không một lời chất vấn. Anh còn lo cho anh và em. Thế lần này em có đi với anh không ?
Chắc có. – Nàng trả lời – Dầu chuyện gì xảy ra đi nữa, em nghĩ là Thiếu tá Macmahon luôn ở bên ngài, và em sẽ đi với ông ta.
Tốt. Đó là điều anh muốn biết.
Yên lặng một lúc, nàng lại nói :
Anh David này, em muốn anh phải hết sức cẩn thận trong vài ngày tới. Họ muốn tìm hiểu những điều gì đó ở nơi anh nhưng không được. Người ta, bằng cách nào đó, sẽ cố tìm cho ra ở phi hành đoàn của anh, em cũng không rõ nữa. Ngay cả việc họ cho máy bay của anh không hoạt động. Nhiều việc quái gỡ có thể xảy ra mà em không thể nói ra được, ngay cả việc xảy đến cho bản thân anh. Nhưng nếu anh muốn là bầy tôi trung thành của Nữ hoàng, anh phải rất thận trọng trong những ngày tới đây, mãi đến sau ngày Giáng sinh.
Chàng nhìn vào mắt nàng nhỏ nhẹ nói :
Cám ơn em. Anh phải cố nhớ.
Hai người đứng dậy rời khỏi bàn và dồn các đĩa vào một nơi để cho người giữ nhà rửa dùm sáng hôm sau. Sau đấy nàng chế hai ly cà phê từ bình lọc, mang về lại phòng khách và ngồi xuống trước ngọn lửa lò sưởi. Chàng nói :
Trông em có vẻ mệt. Thôi ráng ngủ cho ngon đi nhé ! Uống xong ly này là anh về trại.
 

rko_4180

New Member
Ðề: Mùa mưa_Nevil Shute

Nàng lại nói :
Em chưa mệt đâu ! Chỉ là một chút căng thẳng cho cả anh và em, chẳng có gì đáng ngại.
Chàng mỉm cười, ôn tồn nói :
Ba năm phải chịu đựng như thế, anh nghĩ là vừa đủ cho bất cứ một ai, có lẽ anh cũng bị ảnh hưởng đấy !
Cô gái nhẹ nhàng nói :
Thế mà ngài chịu đựng đã ba mươi năm rồi, anh David ạ !
Đâu có lẽ, như thế này mãi, phải không em ? – chàng nói thêm – Anh muốn nói, đây có lẽ là cái vận xấu nhất, sự khủng hoảng đối với các nhà ngoại giao của ngài.
Nàng gật đầu :
Em cũng nghĩ thế. Nhưng trách nhiệm quá nặng nề đối với một người đàn bà, anh David ạ ! Ngay cả khi không có chuyện rắc rối, ngài phải đọc và đánh dấu cả chồng công báo, riêng cá nhân ngài cũng phải theo dõi vô số các vụ việc, những trách nhiệm xã hội chẳng ăn nhằm gì, ngài cũng phải lưu tâm. Gần một trăm năm qua, đối với bất cứ ai công việc thật quá nhiều không làm nổi. Từ khi Vương triều trở nên quan trọng và đầy trách nhiệm, công việc quá tải đến độ kinh khủng. Chẳng có gì mới mẻ, chẳng hạn như Hoàng tử Albert chết vì làm việc quá sức, người ta gọi là Albert Thiện. Nữ hoàng Victoria có giải pháp của riêng mình bằng cách rút lui hoàn toàn công việc của xã hội. Vua Edward thứ bảy và vua George thứ năm, cả hai cũng không sống được lâu, suốt ngày ở bàn làm việc cho đến khi đi ngủ thì chết. George thứ sáu cũng làm việc cho đến chết, như vua Albert Thiện vậy. Nữ hoàng Elizabeth và Quận công Philip đã ở trên ngôi báu ba mươi năm, lâu hơn bất cứ một vua nào khác trừ Nữ hoàng Victoria. Họ đã chịu đựng đến cùng. Họ đã có thể gánh vác trách nhiệm vì họ cùng nhau làm việc như một tập thể và họ đã thành công tuyệt vời. Nhưng họ không thể cán đáng công việc lâu hơn nữa vì cả hai cũng đã già, anh David ạ ! Già trước tuổi mà !
Yên lặng một lúc, David hỏi :
Vậy đâu là lời giải đáp ? Khi Nữ hoàng băng hà, Vương triều cũng đổ theo hay sao ? Bà là vị vua hay Nữ hoàng cuối cùng của nước Anh sao ?
Cô gái trả lời :
Không, nếu ngài biết cứu giúp Vương triều. Như anh thấy, nếu chuyện ấy xảy ra, chắc chắc sẽ là sự cáo chung của Liên hiệp Anh.
Nàng đứng dậy nói :
Thôi, đừng nói thêm gì nữa, anh nhé ! Em đã không thể giữ bí mật với anh, cho phép em dừng ở đây là vừa. Anh có hiểu cho em không ?
Chàng đứng lên, đến bên cạnh nàng. Chàng nói :
Anh hiểu. Giờ thì em phải đi ngủ. Cố mà ngủ ngoan đi nhé ! Hãy giữ những gì đẹp nhất trong giấc ngủ của em. Anh đi đây một chút và kiếm cho em cái mà em thích.
Nàng cười :
Em sẽ đi ngủ đây. Em sẽ có quà, cái mà em không thể có được và chưa hề dùng đến. Anh cũng cố mà ngủ đi nhé ! Đêm mai là anh bay rồi, bay đến Kenya, phải không anh ?
Chàng gật đầu :
Em nói đúng. Anh đã có công tác rồi mà chẳng hề lo nghĩ. Dại gì mà không ngủ cho ngon. – Chàng mỉm cười nhìn nàng – Mối bận tâm hiện tại của anh là em thôi.
Như bị một ma lực thúc đẩy, nàng tiến đến gần và cầm lấy bàn tay chàng :
Anh Nigger thân yêu, – nàng nhìn vào mắt chàng và nói – Anh đến với em tối nay thật tuyệt vời. Em sẽ không bao giờ quên bữa ăn kỷ niệm này.
Chàng cầm bàn tay kia của nàng và kéo nàng sát vào người chàng. Nàng để yên trong vòng tay ấm, mặt hơi ngước lên, chàng cúi xuống, hai người trao đổi nụ hôn nồng ấm. Nàng để như vậy một lúc cho chàng hôn lên mặt và vuốt tóc nàng. Rồi nàng rời vòng tay chàng và nhỏ nhẹ nói :
Thôi anh nhé, chúng ta đừng tiến xa nữa.
Chàng cười duyên :
Em nói có hơi muộn đấy ! Vì chúng ta đã bắt đầu rồi !
Em biết, nhưng thôi đừng tiến thêm nữa.
Tay chàng vẫn còn ôm vai nàng :
Em muốn nói hãy thong thả đợi ngày sáng sủa hơn, – Chàng nói tiếp – Nhưng em và anh sẽ mãi mãi ghi nhớ giây phút này. Cũng từ giây phút này chúng ta đợi ngày cử hành hôn lễ nhưng chắc phải đợi lâu lắm, phải không em.
Nàng lại nói :
Anh Nigger thương yêu. Khi đã quyết định rồi, chúng ta sẽ không đợi chờ lâu đâu. Như đã có lần, em đã nói với anh là phải chờ em lâu lắm.
Bao lâu ?
Nữ hoàng gặp trời yên bể lặng cũng vài tháng nữa. Lúc ấy em có thể ra đi được rồi” – nàng gỡ vòng tay của chàng và chỉ giữ lại một bàn tay thôi – Anh đã làm em nói ra tất cả, thay vì phải giữ kín anh David ạ !
Chàng cười nói :
Anh sắp sửa đi xa rồi ! Và em phải đi ngủ thôi. Giá mà anh ở lại được với em.
Nàng cười tinh nghịch :
Anh David, nếu anh nói như thế, có lẽ em chẳng an toàn chút nào khi có anh ở trong căn hộ này !
Không có đâu. Em hơi liều quá thôi !
Chàng quay lui lấy mũ và áo khoác :
Những cô gái như em làm cho các chàng trai dễ phạm tội.
Nàng lại nói :
Một ngày nào đó chúng ta sẽ phạm tội, khi Nữ hoàng đã qua đại hạn. Em xin hứa với anh.
Đánh cá nhé ! – vừa nói chàng vừa cúi xuống hôn nhẹ lên má nàng – Chúc em ngủ ngon, Rosemary.
 

rko_4180

New Member
Ðề: Mùa mưa_Nevil Shute

Nàng nói nho nhỏ :
Chúc anh ngủ ngon, anh thương yêu. Nhớ bảo trọng trên đường đến Kenya.
Chàng lái chiếc xe thể thao nhỏ trở về Maidenhead trong cơn mơ màu hồng, chẳng bao lâu chàng lạc vào thế giới thường nhật và lãng quên lời dặn dò cẩn thận của nàng. Chàng ngủ một giấc ngon lành và trước mười giờ chàng đã có mặt ở Luân đôn, ở văn phòng Shell House và hội ý riêng với Chánh đại diện của Hàng không, ông Corbett. Nhờ ông ta, chàng đã khám phá ra sự thật và tuyệt đối tin rằng chàng sẽ thực hiện một chuyến bay xa vào tối hôm ấy. David nói :
Chiều nay tôi cần hai xe bồn trống không và một xe nhớt. Tôi muốn bất kỳ một giọt xăng nhớt nào bơm ra khỏi chiếc Ceres phải được Bộ chỉ huy giám định và phân tích chính xác. Tôi không muốn tìm thấy, trong lúc đổ đầy bình xăng khác, lại có nước lã hay đường hay một loại gì bậy bạ trộn vào trong xăng nhớt. Sau đấy ông cho xin một biên lai chưa dùng, chúng tôi sẽ bơm xăng trở lại cho máy bay đầy đủ. Và tôi không muốn ai biết chuyện này.
Ông Corbett nhướng mắt lên nói :
Như vậy bản thân tôi phải quyết định thôi.
Chiều hôm ấy phải mất ba giờ để tiến hành công việc, đến năm giờ thì tiếp tế xăng nhớt và nhận biên lai chưa dùng. David ra lệnh cho tất cả phi hành đoàn phải có mặt ở nhà chứa máy bay trong lúc công việc tiếp tế đang tiến hành, trừ các tiếp viên. Khi xe bồn đã đi khỏi, David ra lệnh cho một nửa phi hành đoàn đi lấy hành lý và ở lại trong phi cơ với nửa kia. David không dám liều lĩnh. Đến mười giờ, người ta dùng máy kéo đưa chiếc Ceres ra khỏi nhà chứa máy bay và cho các động cơ vận hành vài phút. Trong lúc công việc đang tiến hành thì một xe chở đầy hành lý đến. Mười một giờ kém mười lăm, Công chúa, Quận công và ba người con được xe hơi đưa đến theo sau là xe của y tá, người giúp việc và người hầu. Frank Cox và David đón họ trên đường băng và đưa họ vào máy bay. Sau đấy Frank Cox rút lui, cửa máy bay đóng lại và David bắt đầu thi hành công tác.
Dưới đất gió thổi mạnh và hơi ẩm, họ bay vào mây ở độ cao một ngàn bộ. Rời khỏi tầng mây thấp nhất vào khoảng mười sáu ngàn bộ và bay vào đúng đường bay trong ánh trăng vằng vặc. Công chúa cùng chồng đến buồng lái và ở lại vài phút nói chuyện với các phi công, nhưng chẳng có gì để xem cả ngoài bầu trời xanh và ánh trăng sáng, dưới xa là tầng mây trắng và rồi hai người đi trở về buồng riêng để nghỉ ngơi.
Bay về phương nam họ bỏ lại mây trắng đằng sau và vào lúc nửa đêm họ đến Địa Trung Hải, dưới lớp mây cách khoản họ thấy được ánh điện của thành phố Genoa. Một giờ mười lăm họ bay qua miền dưới của đảo Sicile gần Catania và hai giờ mười lăm họ bay qua vùng Bengazi của bờ biển Phi Châu. Bốn giờ ba mươi phương hướng vô tuyến cho biết thành phố Khartoum sáng lên, có lẽ máy bay cách đó ba trăm dặm về hướng tây. Đến đây thì trời vừa sáng, máy bay đang bay về hướng đông nam. Một giờ sau David bắt đầu cho hạ độ cao và đến sáu trăm mười lăm ngàn bộ, chàng thấy được dãi đen phi đạo về phía bắc của đỉnh núi Kenya. Chàng tiến đến gần, cẩn thận đảo một vòng trước khi đáp vì trước đây chàng chưa đến đây bao giờ và ở cao độ sáu trăm ba mươi lăm ngàn bộ, giờ GMT chàng đáp nhẹ bánh trên đường băng và đổ lại bên cạnh các loại xe hơi đậu gần phi đạo. Xuống đến đất là chín giờ sáng và mặt trời Châu Phi đã bắt đầu nóng bức.
Chàng đứng vài phút trên đường băng nói chuyện với Công chúa và Quận công và mấy người con vừa mới thức dậy. Tất cả bước lên xe hơi và tài xế lái về hướng Sanaga nơi có biệt xá của Hoàng gia. Phi hành đoàn tiếp tục bay đến Nairobi để tiếp tế nhiên liệu và từ đó trở về nước Anh. Họ đáp xuống phi trường White Waltham sau mười hai giờ, giờ GMT và David cho chiếc Ceres tiếp tế nhiên liệu và kiểm tra ngay chiều hôm đó, Chủ nhật, mười bảy tháng chạp và sẵn sàng cho một chuyến bay khác. Tối hôm đó, David gọi điện thoại cho Đại tá Cox và báo cáo là đã sẵn sàng.
David rất đỗi ngạc nhiên khi thấy chiếc Sugar từ Canada trở về đang nằm trong nhà chứa máy bay. Trong lúc nghỉ giải lao, chàng đã hỏi Chỉ huy trưởng Dewar có chuyện gì mà anh ta phải trở về.
Vị sĩ quan Canada trả lời ngắn gọn :
Chở ngài Toàn quyền về.
Tom Forrest ?
Ngài Đại nguyên soái Thomas Forrest chứ ! – Chàng Canada trả lời.
Ông ta trở về làm gì ?
Ông ta có nói cho tôi biết đâu !
Có ai đi với ông ta không ?
Không, chỉ một mình ông ta. Thế còn chuyến đi của anh thì sao ?
Cũng thế thôi, – chàng người Úc trả lời –Bay đến đấy, đổ đầy xăng rồi quay trở về.
Cũng lạ ghê nhỉ ? – vị sĩ quan Canada nhận xét.
Chẳng có gì cả.
Lát sau, khi hai người trong cơ quan, chàng nói riêng với Dewar :
Tôi được tin là sẽ có lộn xộn trong xứ sở chết tiệt này. Thế nào cũng có phá hoại chìm trong các chiếc máy bay của chúng ta. Hình như Vương triều càng ngày càng có những hoạt động độc lập, như chuyện máy bay của chúng ta, phù hợp với ý nguyện của những người Anh xa xứ. – Chàng còn lưu ý Dewar cẩn thận trong việc xăng nhớt. Chàng nói tiếp – Tôi chỉ sợ có kẻ đột nhập vào ban đêm. Một người canh chưa đủ đâu.
Sĩ quan Canada nói :
Chúng mình phải có mặt ở đây nhiều đêm rồi đấy !
Chắc chắn là phải có. Điều hành như lính canh.
Khi có mặt ở đây, tôi phải tuần tra với nhân viên phi hành, – anh Dewar nói – Tuy nhiên, tôi sẽ trở về Ottawa, ngày mai. Có lẽ mình phải đứng ở đây một khoản thời gian. Tôi phải cho nhân viên phi hành của tôi trực đêm nay.
Suy nghĩ một chút, David nói :
Nếu bay ngày mai thì đêm nay khỏi trực cũng được. Một nửa phi hành đoàn của tôi có mặt ở đây sẽ lo cho cả hai chiếc. Ngày mai tôi sẽ sắp xếp qui củ hơn. Chuyến này có chở ai không ?
Sĩ quan Canada lắc đầu :
Cho tới giờ này thì chỉ biết bay máy bay không ?
Đêm hôm ấy David ở lại trong nhà chứa máy bay với ba nhân viên nữa, điều hành bốn người trực, hai thức tuần tra, hai ngủ trên sàn máy bay Tare. Sáng hôm sau, lúc mười một giờ, David đã có mặt ở Tòa Đại sứ Úc để được ngài Charles O’Keefe, phó Đô đốc của Hải quân Hoàng gia Úc, tiếp. Đô đốc biết rất rõ về Nigger Anderson vì đã bay với nhau trong đệ nhị thế chiến. Ông ta tiếp David rất thân mật và mời một điếu thuốc.
Viên phi công nói :
Tôi đang ở vào tình trạng rất khó xử mà không dám nói. Cái mà tôi cần là một toán tuần tra cho chiếc máy bay của tôi trong nhà chứa máy bay ở White Waltham. Tôi không muốn xin không lực Hoàng gia vì đây là tài sản của nước Úc. Nếu ngài có cho tôi xin một toán lính gác thuộc Hạm đội Úc đến đây.
 
Top