Gợi ý giải đề thi môn Văn thi tốt nghiệp THPT 2007

lily_fames_dp

Chủ tịch lò mổ
MÔN VĂN - PHÂN BAN​
I. PHẦN CHUNG CHO THÍ SINH CẢ HAI BAN (5,0 điểm)
Câu 1 (2 điểm): Anh, chị hãy tóm tắt ngắn gọn truyện Thuốc của Lỗ Tấn.
Câu 2 (3 điểm): Giải thích ý nghĩa nhan đề truyện ngắn Vợ nhặt của Kim Lân.
II. PHẦN DÀNH CHO THÍ SINH TỪNG BAN (5,0 điểm)
A. Thí sinh Ban KHTN chọn câu 3a hoặc 3b
Câu 3a (5 điểm):Cảm nhận của anh, chị về cảnh thiên nhiên Tây Bắc qua đoạn thơ sau trong bài thơ Tây Tiến của Quang Dũng:
Sông Mã xa rồi Tây Tiến ơi!
Nhớ về rừng núi nhớ chơi vơi
Sao Khao sương lấp đoàn quân mỏi
Mường Lát hoa về trong đêm hơi
Dốc lên khúc khủyu dốc thăm thẳm
Heo hút cồn mây, súng ngửi trời
Ngàn thước lên cao, ngàn thước xuống
Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi.

(Theo Ngữ văn 12-tập một, Sách giáo khoa thí điểm,
Ban KHTN, Bộ 2, tr.80, NXB Giáo dục, 2005).
​
Câu 3b (5 điểm): Cảm nhận của anh, chị về nhân vật Việt trong truyện ngắn Những đứa con trong gia đình của Nguyễn Thi.
B. Thí sinh Ban KHTN&NV chọn câu 4a hoặc 4b
Câu 4a (5 điểm): Anh, chị hãy phân tích cảm xúc của nhà thơ Nguyễn Đình Thi trong đoạn thơ sau:
Sáng mát trong như sáng năm xưa
Gió thổi mùa thu hương cốm mới
Tôi nhớ những ngày thu đã xa

Sáng chớm lạnh trong lòng Hà Nội
Những phố dài xao xác hơi may
Người ra đi đầu không ngoảnh lại
Sau lưng thềm nắng lá rơi đầy

Mùa thu nay khác rồi
Tôi đứng vui nghe giữa núi đồi
Gió thổi rừng tre phấp phới
Trời thu thay áo mới
Trong biếc nói cười thiết tha.

(Trích Đất nước-Nguyễn Đình Thi, Ngữ văn 12-tập một,
SGK thí điểm Ban KHXH&NV, Bộ 2, tr.202, NXB Giáo dục, 2005)
​
Câu 4b (5 điểm): Anh, chị hãy phân tích hình ảnh con người Tây Nguyên trong truyện ngắn Rừng xà nu của Nguyễn Trung Thành.
GỢI Ý LÀM BÀI​
I. PHẦN CHUNG CHO THÍ SINH CẢ HAI BAN (5,0 điểm)
Câu 1 (2 điểm): Tóm tắt ngắn gọn truyện ngắn Thuốc của Lỗ Tấn
Truyện ngắn Thuốc được Lỗ Tấn sáng tác năm 1919, in trong tập “Gào Thét”: Vợ chồng chủ quán Hoa Thuyên có người con trai bị bệnh lao và họ tin tưởng rằng bánh bao có tẩm máu người chết sẽ chữa khỏi. Ông Thuyên lén lút mang tiền đến pháp trường và hí hửng mang về cái bánh bao tẩm máu của người bị chém. Đó là máu của người chiến sĩ cách mạng Hạ Du. Bánh bao tẩm máu không chữa được bệnh lao phổi và thằng Thuyên chết. Qua đó, tác giả phê phán thói mê tin dị đoan, ấu trỉ hững hờ với cách mạng của người dân và cần thuốc để chữa cho tình trạng xa rồi quần chúng của các chiến sĩ cách mạng lúc bấy giờ.
Câu 2 (3 điểm): Ý nghĩa nhan đề “Vợ nhặt” của Kim Lân:
Câu hỏi yêu cầu thí sinh thể hiện sự cảm nhận sâu sắc về ý nghĩa của thiên truyện ngắn qua nhan đề của tác phẩm. Học sinh trả lời các ý sau đây:
+ Ý 1: Trước khi cuộc Cách mạng tháng Tám nổ ra, nhân dân ta phải sống một kiếp sống lầm than dưới ba tròng áp bức bóc lột (thực dân Pháp, phát xít Nhật và phong kiến tay sai) một trận đói khủng khiếp kinh hòang xảy ra ở Miền Bắc làm chết trên 2 triệu người. Nhà văn Kim Lân, một cây bút viết truyện ngắn vững vàng chuyên tả chân đã thể hiện số phận bi thảm của những người nông dân ấy trong truyện Vợ nhặt - ngay từ nhan đề “Vợ nhặt” tác giả đã thể hiện ý nghĩa nội dung của tác phẩm.
+ Ý 2: Với một tình huống truyện độc đáo: giữa cảnh đói, Tràng thô kệch, nhà nghèo kiết xác ở xóm ngụ cư, bị người làng khinh, xưa nay con gái không ai thèm để ý tới, vậy mà, Tràng lại nhặt được vợ. Người ta nói nhặt cái ví, nhặt của rơi.. chứ có ai đời “nhặt vợ”. Những ngày đói ai mà nghĩ đến chuyện đèo bòng vợ con. Một anh chàng nhà nghèo xấu xí, tính dở hơi, ai cũng chê, làm gì có chuyện vợ theo không? Sở dĩ có chuyện vợ nhặt xảy ra vì con người trong hoàn cảnh này không còn là con người nữa, xã hội tàn bạo đó đã tha hóa, đã biến cuộc sống họ trở thành phi nhân loại. Hình ảnh vợ Tràng một cô gái “ngồi vêu” không tên không tuổi, không lai lịch nguồn gốc như một vật bỏ rơi là thế.
+ Ý 3: Nhưng cũng do “nhặt vợ” mà những con người trong hoàn cảnh ấy đã hồi sinh, Tràng trở “nên người” hơn, vợ tràng thay đổi tính nết, trở thành cô dâu hiền thảo và bà cụ Tứ, mẹ Tràng càng phơi lộ phẩm chất giàu thương yêu, vị tha, tin tưởng ở ngày mai.
Giữa những ngày chết đói bi thảm, vẫn “nhặt vợ”, họ không nghĩ đến cái chết, vẫn lạc quan tin tưởng nghĩ đến cái sống, nghĩ đến ngày mai tươi sáng.
II. PHẦN DÀNH CHO THÍ SINH TỪNG BAN (5,0 điểm)
A. Thí sinh Ban KHTN chọn câu 3a hoặc 3b
Câu 3a (5 điểm):
Quang Dũng viết “Tây Tiến” vào năm 1948, tại Phù Lưu Chanh, một làng ven con sông Đáy hiền hòa. Cảm hứng chủ đạo của bài thơ là nỗi nhớ: nhớ đồng đội thân yêu, nhớ đoàn binh Tây Tiến, nhớ bản mường và núi rừng miền Tây, nhớ kỉ niệm đẹp một thời trận mạc…
Hai câu thơ đầu nói lên nỗi nhớ, nhớ miền Tây, nhớ núi rừng, nhớ dòng sông Mã thương yêu:
“Sông Mã xa rồi Tây Tiến ơi!
Nhớ về rừng núi, nhớ chơi vơi”

Đã “xa rồi” nên nỗi nhớ không thể nào nguôi được, nhớ da diết đến quặn lòng, đó là nỗi nhớ “chơi vơi”. Tiếng gọi “Tây Tiến ơi” vang lên tha thiết như tiếng gọi người thân yêu. Từ cảm “ơi!” bắt vần với từ láy “chơi vơi” tạo nên âm hưởng câu thơ sâu lắng, bồi hồi, ngân dài, từ lòng người vọng vào thời gian năm tháng, lan rộng lan xa trong không gian. Hai chữ “xa rồi” như một tiếng thở dài đầy thương nhớ, hô ứng với điệp từ “nhớ” trong câu thơ thứ hai thể hiện một tâm tình đẹp của người chiến binh Tây Tiến đối với dòng sông Mã và núi rừng miền Tây. Sau tiếng gọi ấy, biết bao hoài niệm về một thời gian khổ hiện về trong tâm tưởng.
Những câu thơ tiếp theo nói về chặng đường hành quân đầy thử thách gian nan mà đoàn binh Tây Tiến từng nếm trải. Các tên bản, tên mường: Sài Khao, Mường Lát, Pha Luông, Mường Hịch, Mai Châu… được nhắc đến không chỉ gợi lên bao thương nhớ vơi đầy mà còn để lại nhiều ấn tượng về sự xa xôi, heo hút, hoang dã, thâm sơn cùng cốc,… Nó gợi trí tò mò và háo hức của những chàng trai “Từ thuở mang gươm đi giữ nước – Nghìn năm thương nhớ đất Thăng Long”. Đoàn binh hành quân trong sương mù giữa núi rừng trùng điệp:
“Sài Khao sương lấp đoàn quân mỏi,
Mường Lát hoa về trong đêm hơi”

Bao núi cao, đèo cao, dốc thẳng dựng thành phía trước mà các chiến sĩ Tây Tiến phải vượt qua. Dốc lên thì “khúc khuỷu” gập ghềnh, dốc xuống thì “thăm thẳm” như dẫn đến vực sâu. Các từ láy: “khúc khuỷu”, “thăm thẳm”, “heo hút” đặc tả gian khổ, gian truân của nẻo đường hành quân chiến đấu: “Dốc lên khúc khuỷu, dốc thăm thẳm – Heo hút cồn mây súng ngửi trời!”. Đỉnh núi mù sương cao vút. Mũi súng của người chiến binh được nhân hóa tạo nên một hình ảnh: “súng ngửi trời” giàu chất thơ, mang vẻ đẹp cảm hứng lãng mạn, cho ta nhiều thi vị. Nó khẳng định chí khí và quyết tâm của người chiến sĩ chiếm lĩnh mọi tầm cao mà đi tới “Khó khăn nào cũng vượt qua - Kẻ thù nào cũng đánh thắng!”. Thiên nhiên núi đèo xuất hiện như để thử thách lòng người: “ngàn thước lên cao, ngàn thước xuống”. Hết lên lại xuống, xuống thấp lại lên cao, đèo nối đèo, dốc tiếp dốc, không dứt. Câu thơ được tạo thành hai vế tiểu đối: “Ngàn thước lên cao”và “ ngàn thước xuống”, hình tượng thơ cân xứng hài hòa, cảnh tượng núi rừng hùng vĩ được đặc tả, thể hiện một ngòi bút đầy chất hào khí của nhà thơ – chiến sĩ.
Có cảnh đoàn quân đi trong mưa: “Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi”. Câu thơ được dệt bằng những thanh bằng liên tiếp, gợi tả, sự êm dịu, tươi mát của tâm hồn những người lính trẻ, trong gian khổ vẫn lạc quan yêu đời. Trong màn mưa rừng, tầm nhìn của người chiến binh Tây Tiến vẫn hướng về những bản mường, những mái nhà dân hiền lành và yêu thương, nơi mà các anh sẽ đến, đem xương máu và lòng dũng cảm để bảo vệ và giữ gìn.
Tám câu thơ trên đây là phần đầu bài “Tây Tiến”, một trong những bài thơ hay nhất viết về người lính trong 9 năm kháng chiến chống Pháp. Bức tranh thiên nhiên hoành tráng, trên đó nổi bật lên hình ảnh chiến sĩ can trường và lạc quan, đang dấn thân vào máu lửa với niềm kiêu hãnh “ Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh…”. Đoạn thơ để lại một dấu ấn đẹp đẽ về thơ ca kháng chiến mà sự thành công, là kết hợp hài hoà giữa khuynh hướng sử thi và cảm hứng lãng mạn. Nửa thế hệ đã trôi qua, bài thơ “ Tây Tiến” của Quang Dũng vẫn còn chỗ đứng trong lòng độc giả.
Câu 3b (5 điểm):
Cảm nhận của anh chị về nhân vật Việt trong tác phẩm “Những đứa con trong gia đình“ của Nguyễn Thi.
Đây là dạng câu hỏi tương đối tự do, thí sinh có thể chủ động bày tỏ những suy nghĩ, cảm nhận của riêng mình về nhân vật. Tuy nhiên cũng phải trình bày thành một bài viết mạch lạc và những cảm nhận của bản thân phải phù hợp với nhân vật.
Gợi ý trả lời:​
I. Đặt vấn đề:
- Giới thiệu về tác giả Nguyễn Thi và tác phẩm Những đứa con trong gia đình.
- Việt là một trong những hình tượng trung tâm trong tác phẩm đã để lại trong lòng độc giả những ấn tượng khó quên.
II. Giải quyết vấn đề:
1. Việt là một nhân vật đáng yêu- rất vô tư và dường như chưa bao giờ hết thơ ngây.
- Có dáng vẻ vụng về, lộc ngộc của một câu bé mới lớn, chỉ thích bắt ếch, bắt cá, bắn chim…
- Trước ngày lên đường, Chiến bàn việc gia đình, Việt không mấy quan tâm mà chỉ mải chụp đom đóm, rồi ngủ lúc nào không hay
- Vào bộ đội còn mang theo cây súng cao su
- Ra trận không sợ chết nhưng lại sợ ma.
- Gặp lại đồng đội mừng quá, khóc òa.
2. Việt còn là một nhân vật rất đáng phục vì phẩm chất gan dạ, anh hùng.
- Từ nhỏ đã dám xông vào đá cái thằng đã giết cha mình.
- Việt cùng với chị mình đã đã chủ động tìm giặc để đánh : bắn tàu giặc trên sông, phá xe tăng địch
- Giành nhau với chị đi tòng quân để trả thù cho gia đình.
- Khi chỉ còn một mình trên chiến trường, mình đầy thương tích nhưng Việt vẫn quyết sống mái với quân thù.
Dường như Việt là khúc sông đi xa hơn cả trong dòng sông truyền thống của một gia đình cách mạng.
III. Kết thúc vấn đề:
- Sự vô tư, ngây thơ của Việt càng làm cho phẩm chất anh hùng của Việt thêm đẹp.
- Trong người anh hùng luôn có sự kết hợp giữa cái đời thường và cái phi thường - đó là hình mẫu về người anh hùng chúng ta thường gặp trong tác phẩm của Nguyễn Thi.
B. Thí sinh Ban KHTN&NV chọn câu 4a hoặc 4b
Câu 4a (5 điểm):
Đối với mảnh đất quê hương của mình, ai mà chẳng có những kỉ niệm, sự gắn bó, thân thương. Đoạn thơ trên trong bài “Đất nước” ra đời với tất cả sự nâng niu, ấp ủ của tác giả trong một thời gian dài (1948-1955). Mặc dù dựa trên những suy ngẫm của tác giả về đất nước và con người Việt Nam từ “Sáng mát trong như sáng năm xưa”. “Đất nước” vẫn có được tính chỉnh thể của một tác phẩm nghệ thuật và người đọc vẫn cảm nhận được nó một cách sâu sắc.
Khơi nguồn cho những cảm xúc và suy ngẫm về đất nước là những cảm giác trực tiếp trong một buổi sáng mùa thu gợi lên nỗi nhớ về đất nước:
“Sáng mát trong như sáng năm xưa
Gió thổi mùa thu hương cốm mới
Tôi nhớ những mùa thu đã xa”

Hà Nội hiện lên trong tâm tưởng người thanh niên trí thức đi theo tiếng gọi cách mạng với tất cả những hình ảnh thân thuộc ngày nào: buổi sáng mùa thu trong lành, gió nhẹ thổi và đặc trong gió thoang thoảng mùi hương cốm mới - một mùi hương rất đỗi quen thuộc của Hà Nội - đã gợi lên trong tâm trí nhà thơ một nỗi nhớ da diết, bồi hồi. Chỉ bằng vài nét phác họa tác giả đã gợi lên cả không gian và thời gian, cả màu sắc và hương vị. Một điều gây thắc mắc cho ta là tại sao giữa vùng rừng núi Việt Bắc lại có được mùi “hương cốm mới” ấy. Nhưng nếu liên hệ đến hoàn cảnh lịch sử lúc bấy giờ, có lẽ mùi hương cốm ấy là có thật và điều này cũng có thể được hiểu: các chiến sĩ hoạt động ở vùng rừng núi rất ít khi có điều kiện về Hà Nội thăm gia đình, do đó mỗi lần về Hà Nội họ đều nhớ mang theo đặc sản của quê hương - cốm. Khi trở lại Việt Bắc và mùi hương cốm vào buổi sớm tinh mơ có lẽ bắt nguồn từ đó. Ắt phải là một người yêu quê hương ghê gớm lắm tác giả mới cảm nhận được mùi hương ấy. Và có lẽ mùi hương cốm mới đã dẫn nhà thơ ngược dòng thời gian, sống lại những kỉ niệm xưa:
“Sáng chớm lạnh trong lòng Hà Nội
Những phố dài xao xác hơi may
Người ra đi đầu không ngoảnh lại
Sau lưng thềm nắng lá rơi đầy”

Mùa thu Hà Nội với những cảnh vật thiên nhiên và con người hiện ra trong hoài niệm thật cụ thể, sinh động và gợi cảm. Sự nhạy cảm, tinh tế đã giúp nhà thơ nhận ra cái “chớm lạnh” của buổi sáng mùa thu, cảm giác thật cụ thể cái “xao xác hơi may trên những phố dài”. Câu thơ rất gợi cảm, đầy ấn tượng, một phần là nhờ cách đảo ngữ: “Những phố dài xao xác hơi may”. Cả Hà Nội dường như trở thành một thành phố trống không, chỉ có những chiếc lá vàng bị những đợt gió heo may cuốn bay.
Nhân vật người ra đi - có lẽ là người duy nhất và cuối cùng giã biệt Hà Nội để lên chiến khu Việt Bắc để lại thềm nắng đầy lá vàng rơi cho nên “đầu không ngoảnh lại” nhưng là cả một sự xao xuyến, bâng khuâng trong tâm tưởng. Hình ảnh người ra đi giữa không gian đầy màu sắc ánh sáng, tạo một ấn tượng sâu đậm, chất chứa những nỗi niềm, những tâm trạng. Với bảy chữ “Sau lưng thềm nắng lá rơi đầy” tác giả đã vẽ nên một bức tranh cực kì gợi cảm: Một người đang bước đi, sau lưng là thềm nhà đầy nắng vàng và lá rụng.
Có thể nói bốn câu thơ viết về mùa thu Hà Nội trong niềm hoài niệm của nhà thơ là những câu thơ hay nhất, đẹp nhất của bài thơ. Quả là một mùa thu buồn. Mùa thu thường buồn nhưng mùa thu ở đây có một nét buồn khó hiểu hơn. Đó là cái buồn của người công dân trong cảnh nước nhà đang rơi vào vòng máu lửa, cuộc kháng chiến toàn quốc bùng nổ, mọi người rời lên chiến khu để tham gia kháng chiến, phố phường trở nên hoang vắng và hiu hắt buồn. Nhưng cái buồn ấy là cái đà, cái cần thiết cho mùa thu vui. Người ra đi buồn tha thiết với lí tưởng đất nước, và theo Tố Hữu: “Dẫu chưa trọn vẹn đã bay cờ hồng”.
Đó là đất trời giải phóng ở chiến khu Việt Bắc. Có lẽ chính tình người đã đổi thay nên niềm vui đã hát lên thành lời trong bức tranh mùa thu:
“Mùa thu nay khác rồi
Tôi đứng vui nghe giữa núi đồi
Gió thổi rừng tre phấp phới
Trong biếc nói cười thiết tha”

Đầu tiên là xác định điểm nhìn hiện tại “mùa thu nay” và rõ ràng là “mùa thu nay” và “mùa thu quá khứ” đã “khác rồi”. Tư thế ở đây không phải là tư thế người ra đi mà là tư thế đứng giữa đất trời của người làm chủ đất nước. Tâm trạng ở đây là tâm trạng đứng giữa đất trời của người làm chủ đất nước. Tâm trạng ở đây không buồn mà được xác định là “vui giữa đất trời”. Thiên nhiên đã được nhân hóa, nó không im lặng mà như đang lên tiếng nói từ “rừng tre phấp phới” cho đến trời thu “trong biếc nói cười thiết tha”.
Giọng điệu thơ biến đổi hẳn: khỏe khoắn với những câu thơ ngắn gọn. Khổ thơ không hề xuất hiện những hình ảnh ước lệ sen tàn, cúc nở như mùa thu trong thơ cổ, cũng không có “áo mơ phai dệt lá vàng” đài các như mùa thu trong thơ mới mà hiện diện bằng những hình ảnh bình dị, dân dã, khỏe khoắn và tươi vui hơn. Cảnh sắc thiên nhiên vừa tươi sáng vừa trong trẻo hòa hợp với tâm trạng vui hồ hởi của con người tạo nên một vẻ đẹp mới của mùa thu đất nước. Nếu mùa thu ở trên với những chiếc lá vàng bay đem theo cái se lạnh cả lòng người thì ở đây cảnh vật đã hoàn toàn đổi khác.
Thiên nhiên đang trở mình và cùng con người đón mùa thu mới, một mùa thu với những thắng lợi vẻ vang - làm lạc quan, xao xuyến lòng người. Rõ ràng cảm hứng công dân đã tạo cho bài thơ một cảnh thu và tình thu rất khác so với những bài thơ mùa thu khác. Nguyễn Đình Thi đã đem đến một nét mới cho những bài thơ viết về mùa thu.
Ở đây cảm hứng thời đại được kết hợp hài hòa với cảm hứng lịch sử. Câu thơ tạo không khí trang trọng, thiêng liêng vì đã khơi đúng mạch truyền thống tinh thần ngàn đời của dân tộc.
Câu 4b (5 điểm):
Anh (chị) hãy phân tích hình ảnh con người Tây Nguyên trong truyện ngắn Rừng xà nu của Nguyễn Trung Thành. (5 điểm)
1. Giới thiệu khái quát về tác giả Nguyễn Trung Thành và tác phẩm Rừng xà nu (0,5đ)
1.1. Tác giả Nguyễn Trung Thành:
- Là một trong những nhà văn lớn của nền văn học hiện đại Việt Nam, có nhiều tác phẩm nổi tiếng phản ánh sinh động thực tế đấu tranh hào hùng của đồng bào miền Nam.
- Nhiều năm gắn bó với chiến trường – mảnh đất Tây nguyên, am hiểu và viết rất hay về đề tài Tây Nguyên.
1.2. Tác phẩm Rừng xà nu
- Ra đời năm 1965, tái hiện bối cảnh miền Nam nói chung và Tây Nguyên nói riêng trong phong trào Đồng Khởi 1955-1959.
- Là bản anh hùng ca giàu chất sử thi và cảm hứng lãng mạn ca ngợi ý chí kiên cường, sức mạnh đoàn kết và tinh thần anh dũng đấu tranh giành độc lập của người dân Tây Nguyên trong cuộc chiến tranh chống Mỹ cứu nước.
2. Hình ảnh con người Tây Nguyên được thể hiện trong tác phẩm
2.1. Hình ảnh con người Tây Nguyên gắn bó với hình tượng thiên nhiên - cây xà nu
Quán xuyên toàn bộ câu chuyện là hình ảnh rừng xà nu, cây xà nu – hình ảnh mang giá trị biểu trưng cho tinh thần, khí chất con người Tây Nguyên: ham ánh sáng, sống mãnh liệt, kết tụ thành một khối thống nhất, là sự kế tục không ngừng của mạch sống từ quá khứ đến hiện tại và tương lai, giống như các thế hệ dân làng Xô Man từ già Mết, Mai, Tnú đến Dít, Heng.
2.2. Vẻ đẹp của con người Tây Nguyên
Cụ Mết, Tnú, Mai, Dít, Heng là những hình tượng nhân vật đẹp đẽ, biểu tượng của Tây Nguyên bất khuất, hào hùng, đầy không khí sử thi. Mỗi nhân vật có một vẻ đẹp riêng và đều mang ý nghĩa tư tưởng sâu sắc.
2.2.1. Cụ Mết:
- Gợi liên tuởng đến cây xà nu cổ thụ trên đại ngàn Tây Nguyên, là nhân vật gạch nối giữa quá khứ và hiện tại, là biểu tượng cho truyền thống đấu tranh từ cuộc kháng chiến trước (chống Pháp), nay là điểm tựa vững chắc cho thế hệ trẻ trong cuộc kháng chiến này (chống Mỹ).
- Đó là một ông già quắc thước, ngực chắc như một cây xà nu lớn, giọng ồ ồ vang rộ, có uy tín nhất làng. Linh hồn của cuộc chiến đấu là anh Quyết - “người Đảng” , nhưng người cổ động, tổ chức, điều hành phong trào đấu tranh là cụ.
- Những điều trên được thể hiện qua hàng loạt hành động, và nhất là những lời nói sâu sắc, cô đúc chân lý của cụ Mết : “Cán bộ là Đảng, cán bộ còn thì Đảng còn”, “Chúng nó đã cầm súng thì mình phải cầm giáo”, “Thế là bắt đầu rồi. Đốt lửa lên ! Tất cả người già, người trẻ, người đàn ông, người đàn bà, mỗi người phải tìm lấy một cây giáo, một cây mác…”…
2.2.2. Tnú:
Gợi liên tưởng đến những cây xà nu đã trưởng thành, là thế hệ tiếp nối của cha anh, là lực lượng nòng cốt của cuộc chiến đấu hôm nay với sự lớn mạnh nhanh chóng, vững chắc, tiêu biểu cho số phận và con đường của các dân tộc Tây Nguyên.
- Gan góc, dũng cảm, trung thực và trước sau trung thành với lý tưởng cách mạng.
- Biết vuợt lên mọi đau đớn và bi kịch cá nhân. Anh đem nỗi đau riêng nhập vào nỗi đau chung của quê hương, của dân tộc, trưởng thành trong đội ngũ những người cầm vũ khí giải phóng đất nước.
- Có tính kỉ luật cao: tuy nhớ nhà, nhớ làng, nhưng phải được cấp trên cho phép mới về và trả phép đúng hạn.
1.2.3. Dít:
- Là hiện thân và sự tiếp nối của Mai, là một kiểu cán bộ nòng cốt mới:
- Gan góc, kiên trung: từ bé đã đi nuôi cán bộ, giặc bắt được, doạ bắn vẫn không khóc, không khai; chứng kiến cái chết của chi gái và cháu với một bản lĩnh phi thường, biến đau thương thành hành động cụ thể.
- Trưởng thành rất nhanh: sau 3 năm gặp lại, Tnú phải ngỡ ngàng trước sự biến đổi của Dít. Cô đã trở thành người lãnh đạo cao nhất ở làng Xô Man, tổ chức làng thành một làng chiến đấu, tổ chức cuộc sống sinh hoạt cho dân làng (rửa chân sạch trước khi lên sàn nhà, uống nước đun sôi…).
- Là người giữ nguyên tắc khi làm việc, nhưng lại rất tình cảm với mọi người.
1.2.4. Heng:
Là cây xà nu non vừa nhú khỏi mặt đất đã hứa hẹn vòm lá xanh rờn lao vút lên trời như mũi tên nhọn hoắt – đó là thế hệ măng non của núi rừng Tây Nguyên, lớp người kế tục thế hệ hiện tại trong cuộc chiến tranh dài lâu với kẻ thù.
2. Nhận xét chung:
Hình ảnh con người Tây Nguyên đủ các thế hệ ấy gợi cho chúng ta một sức mạnh dào dạt vô tận, phẩm chất, khí phách của nhân dân anh hùng, tập thể anh hùng trong thời đại mới – thời đại đánh Mỹ. Hình ảnh những con người ấy để lại ấn tượng mạnh mẽ cho người đọc vì vừa mang dấu ấn thời đại, vừa đậm đà phong cách Tây Nguyên.
 

lily_fames_dp

Chủ tịch lò mổ
Ðề: Gợi ý giải đề thi môn Văn thi tốt nghiệp THPT 2007

Môn văn - không phân ban



ĐỀ VÀ GỢI Ý THAM KHẢO CÁCH LÀM ĐỀ SỐ 1 - MÔN NGỮ VĂN​
Câu 1 (2 điểm): Nêu những nét chính về cuộc đời và sự nghiệp văn học của Lui Aragông.
Câu 2 (3 điểm): Nhận xét ngắn gọn về tình huống độc đáo trong truyện Vợ nhặt của Kim Lân.
Câu 3 (5 điểm): Phân tích cái hay, cái đẹp trong đoạn thơ sau:
Mình đi, có nhớ những ngày
Mưa nguồn suối lũ, những mây cùng mù
Mình về, có nhớ chiến khu
Miếng cơm chấm muối, mối thù nặng vai?
Mình về, rừng núi nhớ ai
Trám bùi để rụng, măng mai để già.
Mình đi, có nhớ những nhà
Hắt hiu lau xám, đậm đà lòng son.

(Trích Việt Bắc - Tố Hữu, Văn học 12 - tập một,
tr.154-155, NXB Gio dục, H Nội, 2005)
​
Gợi ý:
* Câu 1 (2 điểm):
Lui Aragông sinh ra và lớn lên ở Paris, ham mê văn chương nhưng theo ý gia đình học y khoa. Năm 1918 nhập ngũ, sau một năm thì xuất ngũ, theo đuổi văn chương, lúc đầu theo trường phái siêu thực, nổi lọan. Nhưng sau đó, tìm thấy cái đẹp lý tưởng cộng sản, gia nhập Đảng cộng sản Pháp năm 1927. Năm 1928 gặp và yêu Elsa Triolet (cô gái Nga gốc Do Thái) và năm 1932 thì cưới nàng. Tình yêu Elsa đã chấp cánh thơ, lý tưởng đẹp của nhà thơ. Trong thế chiến thứ hai (1939-1945), ông nhập ngũ chống phát xít Đức. Năm 1953 được bầu vào ban chấp hành đảng cộng sản Pháp. Năm 1957 được trao giải thưởng hòa bình mang tên Lênin.
Sự nghiệp văn chương của L.Aragông đồ sộ gồm: thơ, tiểu thuyết, bình luận văn học. Tác phẩm tiêu biểu: tiểu thuyết “Những người cộng sản” ( 6 tập); Thơ “Đôi mắt Elsa”, “Anh chàng say đắm Elsa”…
* Câu 2 (3 điểm):
I. Đặt vấn đề:
- Giới thiệu tác giả Kim Lân và tác phẩm Vợ nhặt.
- Một trong những thành công của tác phẩm Vợ nhặt là nhà văn đã sáng tạo được một tình huống truyện độc đáo.
II. Giải quyết vấn đề:
1. Tóm tắt tình huống truyện:
Tràng - một anh nông dân nghèo, xấu trai, là dân ngụ cư. Vậy mà chỉ vài câu hò buâng quơ và mấy bát bánh đúc đã có vợ hẳn hoi theo về.
2. Nhận xét:
Đây là một tình huống lạ, hiếm thấy nhưng lại có giá trị nội dung tư tưởng và giá trị nghệ thuật cao:
-Tố cáo tội ác của bọn thực dân, phát xít, phong kiến đã đẩy nhân dân ta đến nạn đói khủng khiếp năm 1945.
- Con người dù trong bất kỳ hoàn cảnh nào vẫn khát khao sống hạnh phúc, vẫn tin tưởng và kỳ vọng vào tương lai
- Nhờ tình huống độc đáo mà tác phẩm lôi cuốn và hấp dẫn. Nhân vật được đặt trong các tình huống gay cấn để bộc lộ tâm trạng, tính cách.
III. Kết thúc vấn đề:
Với tình huống được cấu trúc độc đáo, tác phẩm Vợ nhặt của Kim Lân đã để lại những ấn tượng sâu sắc trong lòng người đọc.
* Câu 3 (5 điểm)
- Yêu cầu thí sinh biết cách làm bài phân tích một đọan thơ để cảm nhận được vẻ đẹp, cái hay, đặc sắc của đoạn thơ. Bố cực mạch lạc, hành văn trôi chảy.
- Bài làm gồm các ý cơ bản sau:
1. Giới thiệu tác giả, tác phẩm, đoạn trích: Việt Bắc là bài thơ hay, đặc sắc của Tố Hữu và của thơ ca kháng chiến chống Pháp. Thông qua lời hát đối đáp mang âm hưởng đối đáp giao duyên trong ca dao, dân ca, tác giả bộc lộ tình cảm lớn của thời đại, ân tình cách mạng và ca ngợi chủ nghĩa anh hùng cách mạng trong 9 năm kháng chiến đầy gian khổ ở Việt Bắc. Đoạn thơ trên bộc lộ tâm trạng của người ở lại Việt Bắc thương nhớ và sắt son với người cán bộ kháng chiến về xuôi.
2. Cái hay cái đẹp trong đọan thơ: thể thơ lục bát, truyền thống của dân tộc được tác giả sử dụng nhuần nhuyễn, điêu luyện trong lối hát đối đáp giao duyên như trong ca dao dân ca, đặc biệt chọn lựa và sử dụng cặp từ nhân xưng “mình - ta” thật phù hợp, thân thiết mà không sổ sàng; kín đáo mà không xa vời. Ở đoạn thơ này người ở lại Việt Bắc với nhân xưng là “mình”.
- Hai cặp lục bát trên với những câu hỏi (tu từ) đã bộc lộ tấm lòng quyến luyến, đồng thời gợi lên những kỷ niệm ân tình gắn bó trong 9 năm kháng chiến gian khổ ở núi rừng Việt Bắc. Cùng chịu đựng sẻ chia gian khổ “miếng cơm chấm muối” và cùng chung mối căm thù cao độ “mối thù nặng vai”.
- Hai cặp lục bát dưới: tác giả khéo léo sử dụng nghệ thuật ẩn dụ “ rừng núi nhớ ai” và “hắt hiu lau xám, đậm đà lòng son”, cũng như hình thức điệp từ “nhớ” để bộc lộ tấm lòng thủy chung son sắc của người ở lại Việt Bắc đối với người cán bộ kháng chiến về xuôi.
3. Cái hay cái đẹp của đoạn thơ là những câu thơ lục bát với giọng tâm tình tha thiết, đậm đà tính dân tộc, nhà thơ đã bộc lộ tấm lòng nhớ thương và thủy chung của đồng bào dân tộc Việt Bắc với người cán bộ kháng chiến về xuôi, với cách mạng, với đảng và Bác Hồ.
 

lily_fames_dp

Chủ tịch lò mổ
Ðề: Gợi ý giải đề thi môn Văn thi tốt nghiệp THPT 2007

ĐỀ VÀ GỢI Ý THAM KHẢO CÁCH LÀM ĐỀ SỐ 2 - MÔN NGỮ VĂN​
Câu 1 (2 điểm): Chỉ mẹ là niềm vui, ánh sáng diệu kỳ
Chỉ mình mẹ giúp đời con vững bước.

(Trích Thư gửi mẹ - Êxênin, Văn học 12-tập hai,
tr.55, NXB Giáo dục, 2004).
​
Anh, chị hiểu hai câu thơ trên như thế nào?
Câu 2 (3 điểm): Giải thích ý nghĩa nhan đề truyện ngắn Rừng xà nu của Nguyễn Trung Thành
Câu 3 (5 điểm): Phân tích vẻ đẹp người lái đò trong tùy bút Người lái đò Sông Đà của Nguyễn Tuân.
Gợi ý:
* Câu 1 (2 điểm):
Câu thơ đầu khẳng định mẹ là người đàn bà quan trọng nhất trong đời đối với tác giả. Vai trò người mẹ đối với ông như là đức mẹ (vì ông là người theo đạo). Mẹ là người duy nhất mang lại cho tác giả niềm vui và “ánh sáng diệu kỳ”. “Ánh sáng diệu kỳ” có thể hiểu như những phép lạ của một đức mẹ ban cho những cảnh đời u tối.
Câu thứ hai: “Chỉ mình mẹ giúp đời con vững bước” khẳng định thêm mẹ là người duy nhất giúp ông vững bước trên đường đời nhiều gian truân. Đối với ông mẹ là niềm tin thiêng liêng nhất trong cuộc đời.
* Câu 2 (3 điểm):
Hình ảnh cây xà nu và rừng xà nu trong truyện có tác dụng tạo nền cho câu chuyện. Bằng những hình tượng nghệ thuật có giá trị tạo hình, có ý nghĩa tượng trưng và bằng thủ pháp nhân hóa làm cho cây xà nu cũng như rừng xà nu hiện hình sống động trước mắt người đọc: “Cả rừng xà nu hàng vạn cây không có cây nào không bị thương. Có những cây bị chặt đứt ngang nửa thân mình, đổ ào ào như một trận bão”. Rồi “… nhựa ứa ra, tràn trề… rồi dần dần bầm lại, đen và đặc quyện lại thành từng cục máu lớn”. “Đạn đại bác không giết nổi chúng, những vết thương của chúng chóng lành như trên một thân thể cường tráng”. Và có khi “cạnh một cây xà nu mới ngã gục, đã có bốn năm cây non mọc lên, ngọn xanh rờn, hình nhọn mũi tên lao thẳng lên bầu trời”.
Cây xà nu là một loại cây đặc biệt sinh trưởng nơi núi rừng Tây Nguyên, là loại cây “ham ánh sáng mặt trời” như con người Tây Nguyên luôn vươn tới ánh sáng chân lý. Nó lại có sức sống vững bền: "Cạnh một cây xà nu mới ngã gục, đã có bốn năm cây con mọc lên, ngọn xanh rờn…” như con người Tây Nguyên luôn quật khởi kiên cường. Cây xà nu, rừng xà nu đã gắn bó với con người Tây Nguyên tự bao đời nay, như một lẽ tự nhiên và khi cần “rừng xà nu ưỡn tấm ngực lớn của mình ra, che chở cho làng…”. Ở một tầng nghĩa cao hơn, rừng xà nu tiêu biểu cho sức sống bất diệt, tinh thần đấu tranh kiên cường bất khuất của nhân dân Tây Nguyên. Các thế hệ cây xà nu nối tiếp nhau lớn lên tượng trưng cho các thế hệ dân làng Xô-man, nói rộng ra là các thế hệ nhân dân Việt Nam.
* Câu 3 (5 điểm):
Nhân vật người lái đò được Nguyễn Tuân nhìn như là đối tượng của cái Đẹp. Theo Nguyễn Tuân, không cứ gì cứ là người hoạt động ở các ngành nghệ thuật họ mới là kẻ tài hoa nghệ sĩ. Mà những con người xung quanh chúng ta biết tôn trọng cái Đẹp đều có thể ứng xử Đẹp và tự giác sáng tạo ra cái Đẹp.
Nghệ thuật ở đây chính là nó đã nhập thân vào người lái đò cả phương diện hình thức lẫn tính cách. “Trên thác hiên ngang một người lái đò sông Đà có tự do, vì người lái đò ấy nắm được quy luật tất yếu của dòng sông Đà.
Hình ảnh người lái đò sông Đà được Nguyễn Tuân dựng tượng khiến cho ta như sờ mó được. Bức tượng ấy không phải là con người chung chung mà nó tạo dáng hết sức riêng biệt không thể đặt tên gì khác hơn là “người lái đò sông Đà”. Bức tượng hắt chiếu ra tính cách bên trong của con người này.
“Tay ông dài lêu nghêu như cái sào, chân ông lúc nào… nhỡn giới ông vời vợi như lúc nào cũng mong một cái bến xa nào đó trong sương mù”.
- Để làm nổi bật tài nghệ của ông lái đò, Nguyễn Tuân đã sáng tạo ra một cuộc vượt thác của ông như là một viên tướng ngày xưa lao vào một trận đồ bát quái của Khổng Minh với biết bao nhiêu cạm bẫy, hết vòng này đến vòng khác, và mỗi vòng, đá trên thác sông Đà đều có những viên tướng ti ba chỉ huy.
Để áp đảo ông lái đi, đám “quân thác đá” còn nổi trống chiêng la hò dữ dội “Rống lên như ngàn con trâu mộng đang lồng lộn… rừng lửa cùng gầm thét với đàn trâu cháy bùng bùng”.
Thật là một liên tưởng hết sức bất ngờ. Câu chuyện nói về “đá thác” ở đây là liên tưởng tới “đàn trâu” và “rừng bị cháy”. Nếu không có phong cách tài hoa táo bạo của Nguyễn Tuân khi xử lý những hiện tượng trên sẽ gây ra khập khiễng, phi lôgich. Đoạn văn dựng cảnh đầy giá trị tạo hình, nó như một cuốn phim quay cận cảnh và dựng lại đặc tả các chi tiết. Chính Nguyễn Tuân đã có ý định sử dụng vốn văn hóa về môn nghệ thuật thứ bảy này để dựng cảnh thạch trận thật ấn tượng.
Ta cũng lưu ý thuật kể đầy hồi hộp, đầy kịch tính căng thẳng, vốn tri thức về quân sự và võ thuật được đưa ra ứng dụng. Quả là “ông lái đã nắm chắc được binh pháp của thần sông, thần đá. Ông đã thuộc qui luật phục kích của lũ đá…, Ông đã “cưỡi” lên thác sông Đà: “Nắm chặt lấy cái bờm sóng”, “bám chắc lấy luồng nước” lúc “phóng nhanh” lúc “lái miết”, nhớ mặt bọn đá “đứa thì ông tránh” “đứa thì ông đè xấn lên”…
Ông lái đò quả là vị tướng đầy thao lược tài ba.
Ông đang trình diễn nghệ thuật của mình với qui luật thiên nhiên khắc nghiệt. Nếu thiếu một chút bình tĩnh, thiếu một chút chính xác, ông phải trả giá bằng mạng sống của mình.
Nguyễn Tuân quả là ưa khai thác những cảm giác mạnh để tác động những ấn tượng không phai mờ trong tâm não của độc giả về vẻ đẹp của ông lái đị, Không những là vẻ đẹp của bản lĩnh vượt thác phi thường mà cịn l vẻ đẹp của sự bình dị của con người sông nước bình thường.
Qua nhân vật người lái đò, Nguyễn Tuân cho rằng chủ nghĩa anh hùng đâu phải tìm kiếm đâu xa. Nó có trong cuộc sống tìm miếng cơm manh áo của nhân dân lao động. Những người bình dị có trí dũng tài ba họ có thể tạo hình tạc mẫu cho nghệ thuật. Họ là đối tượng của cái đẹp, của ánh sáng thẩm mĩ hiện đại.
 
Top