cuộc đời của pi

rko_4180

New Member
Cuộc đời của Pi
Yann Martel
Trịnh Lữ dịch/NXB Văn học
"Tặng cha mẹ và anh tôi"
GHI CHÚ CỦA TÁC GIẢ



Cuốn sách này ra đời khi tôi đói. Số là, mùa xuân năm 1996, cuốn thứ hai của tôi, một tiểu thuyết, ra mắt bạn đọc ở Canada. Nó chẳng đi đến đâu. Đám điểm sách lúng túng, hoặc kết án tử hình nó bằng những lời khen nhạt nhẽo. Độc giả phớt lờ nó. Tôi giở hết các ngón kịch hề và nhào lộn trong rạp xiếc truyền thông đại chúng, nhưng vẫn chẳng ăn thua gì. Cuốn sách không nhúc nhích được tí nào. Sách xếp trên kệ trong cửa hàng như bọn trẻ đứng chờ để được chơi bóng chày hoặc bóng đá, và cuốn sách của tôi là thằng nhóc yếu ớt oặt oẹo không ai muốn lấy vào đội của mình. Nó im lìm và nhanh ***ng biến mất.

Thất bại ấy cũng không làm tôi nao núng nhiều lắm. Tôi lại bắt tay vào viết một cuốn khác, một tiểu thuyết có khung cảnh tại Bồ Đào Nha thời 1939. Chỉ có điều, trong bụng cứ bứt rứt không yên. Vả lại vẫn còn ít tiền.

Thế là tôi đi Bombay. Việc đó cũng không phi lí lắm nếu độc giả hiểu được ba điều: thứ nhất là bất cứ sinh linh nào muốn hết bồn chồn thì cứ đến Ấn Độ và làm một việc gì đó trong một thời gian nhất định; thứ hai, ở đó có thể sống dài dài với một món tiền ít ỏi; và thứ ba là một tiểu thuyết có khung cảnh Bồ Đào Nha thời 1939 chưa chắc đã phải dính dáng gì đến Bồ Đào Nha thời 1939/

Trước đó tôi đã từng ở Ấn Độ, miền bắc, năm tháng trời. Tôi hoàn toàn không có chuẩn bị gì cho chuyến đi đầu tiên ấy đến tiểu lục địa. Thực ra, tôi được chuẩn bị chỉ một chữ thôi. Khi tôi hàn huyên về các dự định cho chuyến đi với một người bạn biết nhiều về xứ sở ấy, anh ta thủng thẳng nói: “Ở Ấn Độ người ta nói một thứ tiếng Anh quấy lắm. Họ thích những từ chẳng hạn như là bamboozle.” Tôi nhớ đến câu nói ấy của anh ta khi máy bay bắt đầu giảm độ cao để hạ cánh xuống Dehli, và từ bamboozle trở thành sự chuẩn bị duy nhất của tôi cho cái thế giới điên rồ, ầm ĩ, muôn mặt, nhưng vẫn đâu ra đấy của Ấn Độ. Tôi đã có dịp dùng đến cái từ ấy, và nói thực tình, nó cũng đắc lực. Tôi bảo một thầy ký ga xe lửa: “Chẳng nhẽ giá vé đắt đến thế kia à. Thầy không định bamboozle tôi đấy chứ?” Thầy ký đó mỉm cười, nói như hát, “Không đâu thưa ngài! Không có bam-bu-zư bam-bu-ziếc gì ở đây cả. Chúng tôi nói đúng giá vé thật đấy ạ.”

Lần thứ hai này đi Ấn Độ, tôi biết điều hơn về những gì có thể xảy ra và biết mình muốn gì: tôi sẽ yên vị ở một đồn điền trung du và viết cuốn tiểu thuyết của mình. Tôi mường tượng rõ ràng mình đang ngồi ở bàn trong một hàng hiên rộng, giấy tờ ghi chép ngổn ngang, bên cạnh một tách trà nghi ngút. Những triền đồi xanh mướt dày đặc sương mù trải dài dưới chân, và tiếng kêu lảnh lót của các bầy khỉ sẽ lấp đầy màng nhĩ tôi. Khí hậu sẽ vừa vặn làm sao, chỉ cần một áo len mỏng nhẹ vào buổi sớm mai và chiều tà, còn cả ngày có thể mặc cái gì đó ngắn tay. Và trong cảnh đó, bút trong tay, vì một chân lý lớn lao hơn, tôi sẽ biến Bồ Đào Nha thành một tác phẩm hư cấu. Tiểu thuyết là như vậy, là việc biến đổi hiện thực một cách có chọn lọc, đúng không nào? Là việc vặn vẹo hiện thực để vắt lấy cái cốt lõi của nó, đúng không nào? Vậy nên tôi có cần gì phải đi Bồ Đào Nha, đúng chưa nào?

Bà chủ đồn điền sẽ kể cho tôi nghe những câu chuyện về cuộc đấu tranh đánh đuổi người Anh. Chúng tôi sẽ chọn món cho bữa trưa và bữa tối ngày hôm sau của tôi. Sau mỗi ngày viết, tôi sẽ đi dạo trên các đồi chè thoải dài lên xuống của đồn điền.

Chẳng may cho tôi, cuốn tiểu thuyết ấy cứ ngắc nga ngắc ngứ, ho lên ho xuống, rồi chết hẳn. Lúc đó tôi đang ở Matheran, không xa Bombay là mấy, một trang trại trung du, cũng có vài chú khỉ nhưng không có vườn chè nào. Đối với các văn sĩ chưa thành danh, tình cảnh ấy thật sự khốn khổ. Bạn có chủ đề tốt, câu chứ cũng chẳng kém gì. Các nhân vật bạn dựng lên thật sống động đến mức muốn đi xin giấy khai sinh cho chúng. Diễn biến tình tiết của câu chuyện bạn đã vạch ra hết cả, thật lớn lao, giản dị, và hấp dẫn. Bạn đã nghiên cứu hẳn hoi đâu ra đấy, thu thập đủ cả các dữ liệu lịch sử, xã hội, khí hậu, ẩm thực, những thứ sẽ khiến cho câu chuyện có giá trị đích thực. Những đoạn đối thoại cứ nối nhau thật tự nhiên, lấp lánh, căng thẳng. Những đoạn mô tả bùng lên đầy màu sắc, tương phản và các chi tiết sắc sảo đầy ý nghĩa. Thực sự là câu chuyện viết ra như vậy chỉ có thể hay mà thôi. Thế mà tất cả những cái đó chẳng hợp thành một cái gì cả. Mặc cho những lời hứa hẹn sán lạn và hiển nhiên của câu chuyện, sẽ đến lúc bạn chợt nhận ra những lời thì thầm vẫn thôi thúc bạn viết nó ra từ bấy lâu đến nay lại rót vào tai bạn một sự thật rõ ràng và khủng khiếp, rằng câu chuyện hỏng rồi. Nó thiếu một thứ, cái tia lửa có khả năng thổi sự sống vào một câu chuyện, bất kể là các dữ liệu lịch sử hoặc ẩm thực của bạn đúng hay là sai. Câu chuyện của bạn thế là chết hẳn về mặt tình cảm rồi, đó là mấu chốt của vấn đề. Nhận ra sự thật này cũng giống như bị rơi vào một thảm họa tàn hại linh hồn, tôi phải nói với bạn như vậy. Khi tỉnh lại mình phải sống với cảm giác luôn luôn bị đói, đến thắt ruột thắt gan.

Từ Matheran, tôi nhét hết các giấy tờ bản thảo của cuốn tiểu thuyết không thành ấy vào phong bì. Tôi gửi chúng đến một địa chỉ hư cấu ở Siberia, với một địa chỉ người gửi cũng hư cấu luôn, ở Bolivia. Sau khi thầy ký bưu điện đã cộp dấu và quẳng cái phong bì vào thùng chọn thư, tôi ngồi phịch xuống ngay đó, chán nản hết sức. “Sẽ ra sao đây hở Tolstoy?” Tôi tự hỏi, “Mày còn có ý tưởng hay ho nào khác cho cuộc đời của mày không?”

Gì thì gì, vẫn còn ít tiền và vẫn cảm thấy bứt rứt không yên, tôi đứng dậy, bước ra khỏi nhà bưu điện và quyết định đi thám hiểm về miền nam Ấn Độ.

Với những người hỏi tôi làm nghề gì, tôi đã muốn trả lời: “Tôi là đốc-tờ”. Trong tâm trí tôi lúc ấy,bác sĩ là những người phân phát pháp thuật và phép lạ. Nhưng tôi lại tin rằng chỉ qua khỏi chỗ quành trước mặt kia là chiếc xe buýt sẽ gặp tai nạn, và rồi giữa tiếng kêu la rên rỉ của nạn nhân và các cặp mắt sẽ dán chặt vào tôi kêu cứu, tôi sẽ lại phải giải thích rằng danh vị đốc tờ của tôi không phải là bác sĩ y khoa mà là tiến sĩ luật; thế rồi, khi họ xúm vào đề nghị tôi giúp họ kiện chính phủ về vụ tai nạn, tôi sẽ lại phải phân trần rằng bằng cấp của tôi thực sự chỉ là cử nhân triết học mà thôi; tiếp đó, họ sẽ gào thét đòi biết cái tai nạn đẫm máu ấy thực sự có ý nghĩa gì không, và tôi sẽ phải thú nhận rằng chưa hề đọc đến Kierkegaard; vân vân và vân vân. Thế là tôi đành thui thủi với danh phận nhà văn, một sự thật tím bầm và tủi hổ.

Trên đường, chỗ này chỗ kia, cũng có người đối đáp lại cái danh phận nhà văn ấy. Họ bảo: “Một nhà văn ư? Thật chứ? Tôi có một câu chuyện cho ông đây.” Hầu hết những câu chuyện đó chỉ nhỉnh hơn những mẩu giai thoại chút xíu, đều hụt hơi, thiếu sức sống.

Tôi đến thị trấn Pondicherry, một khu tự trị nhỏ xíu trong Liên hiệp Anh về phía nam Madras, ngay bên bờ biển Tamil Nadu. Về dân số và diện tích, Pondicherry là một phần đất không có nghĩa lí gì của Ấn Độ (so về diện tích thì đảo Prince Edward là một lãnh thổ khổng lồ ở Canada), nhưng lịch sử đã khiến cho nó nổi bật. Bởi lẽ Pondicherry đã từng là thủ phủ của lãnh thổ Ấn Độ thuộc Pháp, cho dù lãnh thổ này chỉ là một bộ phận khiêm tốn nhất trong các vương quốc thuộc địa ngày xưa. Người Pháp chắc hẳn đã rất muốn cạnh tranh với người Anh, muốn lắm, nhưng cái lãnh thổ mà họ trầy trật mãi mới chiếm lĩnh được chỉ bao gồm một nhúm các hải cảng nho nhỏ. Họ bám vào những hải cảng này trong gần ba trăm năm. Họ rời Pondicherry năm 1954, bỏ lại đó những tòa nhà trắng xinh xắn, những đường phố chạy vuông góc với nhau, những tên phố như rue de la Marine và rue Saint-Louis, và danh từ kepis, chỉ loại mũ lưỡi trai của cảnh sát.

Tôi ngồi trong quán cà phê có tên Indian Coffee House, phố Nehru. Một gian phòng rộng, tường màu xanh lá cây, trần cao. Quạt trần chạy vù vù trên đầu để lưu thông bầu không khí ẩm ướt. Quán kê chật hết chỗ các bàn hình vuông giống hệt nhau, mỗi bàn bốn ghế. Bạn ngồi được chỗ nào thì ngồi, chung bàn với người nào thì chịu người nấy. Cà phê thì ngon. Lại có bán cả bánh mì nướng giòn. Rất dễ bắt chuyện. Và thế là, một ông già quắc thước mắt sáng với những lọn tóc trắng phau đang nói chuyện với tôi. Tôi khẳng định với ông ta rằng Canada đúng là lạnh, rằng có những vùng đúng là nói tiếng Pháp, và rằng đúng là tôi có thích Ấn Độ, vân vân và vân vân - một thứ trò chuyện nhẹ nhàng thường thấy giữa những người bản xứ tò mò hiếu khách với dân “balô” ngoại quốc. Nghe tôi nói là nhà văn, ông già tròn mắt, gật đầu. Đến lúc phải đi rồi. Tôi giơ tay, cố vẫy ra hiệu cho người hầu bàn đem hóa đơn ra tính tiền.

Rồi ông già bảo: “Tôi có một câu chuyện sẽ khiến cho anh phải tin vào Thượng đế.”

Tôi không vẫy tay nữa. Nhưng vẫn nghi ngại. Biết đâu lại là dòng Thánh Chứng* đang gõ cửa? Tôi hỏi: “Chuyện của cụ xảy ra hai nghìn năm trước ở một nơi hẻo lánh trong Vương quốc La mã phải không ạ?”

“Không.”

Biết đâu ông lão lại là một người rao giảng đạo Hồi. “Thế có xảy ra tại Arập vào thế kỷ thứ VII không ạ?”

“Không, không. Câu chuyện bắt đầu ngay ở Pondicherry này mới vài năm trước đây, và kết thúc, tôi xin nói để ông hay, ở ngay chính quê hương của ông.”

“Và nó sẽ khiến cho tôi tin vào Thượng đế?”

“Đúng như vậy.”

“Thế thì cao cấp quá.”

“Không cao đến nỗi ông không với tới được.”

Người hầu bàn đã đến. Tôi do dự một giây, rồi gọi tiếp hai tách cà phê. Chúng tôi bắt đầu tự giới thiệu làm quen nhau. Tên ông lão là Francis Adirubasamy. Tôi nói: “Nào, cụ làm ơn kể câu chuyện đó đi.”

“Anh phải thật chú ý nghe mới được”, ông lão trả lời.

“Vâng.” Tôi lấy bút và sổ ghi chép.

“Vậy, anh đã đến thăm vườn bách thảo ở đây chưa?” Ông lão hỏi.

“Tôi vừa tới đó hôm qua.”

“Anh có thấy cái đường tầu hỏa giải trí ở đó không?”

“Dạ có.”

“Hiện vẫn còn một tầu chạy vào ngày Chủ nhật cho trẻ con đi chơi. Nhưng trước đây ngày nào cũng có tầu chạy, mỗi giờ hai chuyến. Anh có để ý tên gọi của các trạm đỗ tàu không?”

“Có một trạm gọi là Roseville. Ngay cạnh chỗ vườn hồng.”

“Đúng rồi. Thế còn trạm nữa?”

“Tôi không nhớ.”

“Họ bỏ cái biển tên đi rồi. Trạm đỗ kia ngày trước gọi là Zootown. Đường tầu ấy có hai trạm đỗ: Roseville và Zootown. Ngày xưa có một vườn thú trong khu vườn bách thảo Pondicherry.”

Ông lão kể. Tôi ghi chép các yếu tố của câu chuyện. “Anh phải nói chuyện với cậu ấy,” ông lão bảo tôi, về nhân vật chính. “Tôi rất biết cậu ấy. Bây giờ đã là người lớn rồi. Anh phải hỏi chuyện cậu ấy, với tất cả các thắc mắc của anh.”

Sau đó, ở Toronto, trong số chín cột liệt kê các chủ hộ mang họ Patel trong danh bạ điện thoại, tôi đã tìm ra người ấy, nhân vật chính của câu chuyện. Tim tôi đập thình thịch khi quay số phone của anh ta. Giọng trả lời rất Canada, nhưng vẫn nghe được âm sắc Ấn Độ, nhẹ thôi nhưng không thể lẫn vào đâu được, như một thoáng hương nhang trong không khí. “Chuyện đã lâu lắm rồi,” anh ta nói. Nhưng rồi anh ta vẫn đồng ý gặp. Chúng tôi đã gặp nhau nhiều lần. Anh cho tôi xem cuốn nhật kí anh viết trong thời gian xảy ra các sự kiện của câu chuyện. Anh cho tôi xem cả những mẩu tin, bài cắt trên báo đã có lúc khiến cho anh nổi tiếng, cho dù ngắn ngủi và mờ nhạt. Anh kể câu chuyện của mình cho tôi nghe. Còn tôi thì ghi chép. Gần một năm sau, khó khăn mãi tôi mới nhận được một cuốn băng ghi âm và một bản tường trình của Bộ giao thông vận tải Nhật Bản. Chính khi lắng nghe cuốn băng ghi âm đó tôi thấy đồng ý với ông lão Adirubasamy rằng quả thực đây là câu chuyện sẽ khiến bạn đọc phải tin vào Thượng đế.

Lẽ tự nhiên là câu chuyện của ông Patel phải được kể lại chủ yếu là theo ngôi thứ nhất - tức là bằng chính lời kể của ông và theo con mắt nhìn nhận của ông. Còn mọi thứ sai lêch hoặc nhầm lẫn sẽ hoàn toàn là lỗi ở tôi.

Tôi phải mang ơn nhiều người trong việc này. Rõ ràng là tôi phải cảm ơn ông Patel đầu tiên. Lòng biết ơn của tôi đối với ông là mênh mang như Thái Bình Dương và tôi hy vọng rằng việc tôi kể lại câu chuyện của ông sẽ không làm ông thất vọng. Tôi cũng cảm ơn cụ Adirubasamy đã dắt tôi vào câu chuyện này. Còn để giúp cho tôi hoàn thành được câu chuyện, tôi phải cảm ơn ba vị quan chức có phẩm chất chuyên nghiệp mẫu mực. Đó là các ông Kazuhiko Oda, từng làm tại sứ quán Nhật tại Ottawa; ông Hiroshi Watanabe của công ty tầu biển Oika; và đặc biệt là ông Tomohiro Okamoto, thuộc Bộ Giao thông vận tải Nhật Bản, giờ đã nghỉ hưu. Còn về cái tia lửa thổi được sự sống vào cuốn tiểu thuyết, tôi xin mắc nợ ông Moacyr Scliar**. Cuối cùng, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành của tôi đến cơ quan vĩ đại, tức là Hội đồng Bảo trợ nghệ thuật Canada, vì nếu không có món tiền trợ cấp của Hội đồng, tôi đã không thể chắp nối được câu chuyện này, vốn chẳng dính dáng gì đến Bồ Đào Nha thời 1939. Nếu chúng ta, những công dân, không hỗ trợ các nghệ sĩ, thì chúng ta sẽ giết trí tưởng tượng của mình làm vật hiến tế cho hiện thực thô thiển để rồi chỉ biết qua ngày đoạn tháng, không biết tin vào cái gì, với rặt những giấc mơ vô giá trị.

-------

* Thánh Chứng: Tạm dịch chữ Jehova’s Witness, tên một dòng đạo Thiên Chúa, chuyên tâm phổ biến tín ngưỡng này dựa trên các câu chuyện chứng minh sự hiện hữu có chứng kiến của Chúa Jesus. (ND)
** Nhà văn Brazil đương đại, sống và làm việc ở Porto Alegre, thủ phủ tiểu bang Rio Grande do Sul, miền nam Brazil. Đã xuất bản hơn năm mươi tác phẩm, trong đó có những tiểu thuyết nổi tiếng như Đội quân một người, Con Nhân ngưu trong vườn nhà, Bài ca của Đấng Cứu thế giả hiệu, Vũ hội của các loài thú vật… Xuất thân trong một dòng họ Do Thái-Nga di cư sang Brazil từ cuối thế kỷ trước, từ những năm 1960, ông vừa hành nghề bác sĩ vừa viết tiểu thuyết và là đại biểu xuất sắc của dòng văn học Do Thái-Brazil hiện nay. (ND)
 

rko_4180

New Member
Ðề: cuộc đời của pi

Phần một
Toronto và Pondicherry

Chương I
Đau khổ đã biến tôi thành một kẻ u buồn.

Dần dần, công việc học hành chữ nghĩa và tu tập tín nghưỡng đều đặn cũng khiến tôi vui sống trở lại. Tôi vẫn duy trì cái mà nhiều người có thể coi là những hành vi tín ngưỡng kì lạ. Tôi họcchương trình phổ thông trung học một năm, rồi vào đại học tổng hợp Toronto, lấy hai ngành chính trong chương trình cử nhân, là nghiên cứu tôn giáo và động vật học. Luận văn năm thứ tư về tôn giáo của tôi đề cập đến một số phương diện của lí thuyết vũ trụ tiến hóa của Issac Luria, một tín đồ Kabbalist* vĩ đại hồi thế kỷ 16 ở Safed. Luận văn động vật họccủa tôi làmột nghiên cứu phân tích chứ năng tuyến nước bọt của loài culi ba móng. Tôi chọn loài culi bởi tính cách khiêm nhường của nó – bình thản, im lặng và hướng nội – hình như đã có tác dụng an ủi phần nào mảnh hồn tan nát của tôi.

Có loài culi hai móng và có loài culi ba móng, phân biệt theo chân trước của chúng, vì chân sau của tất cả culi đều có ba móng. Tôi cómột may mắn lớn là được nghiên cứu loài culi ba móng ngay tại môi sinh tự nhiên của chúng ở rừng rậm nhiệt đới Brazil trong một kì hè. Con vật này quả thật là một sinh linh kì bí. Thói quen thật sự duy nhât của nó là thói vô vi. Nóngủhoặc nghỉ ngơi trung bình hai mươi tiếng một ngày. Đội nghiên cứu của chúng tôi đã thí nghiệm theo dõi nếp ngủ của năm con culi ba móng bằng cách đặt lên đầu chúng, sau khi chúng đã thiếp đi vào lúc chiều tà, những cái đĩa nhựa mầu đỏ tươi đựng đầy nước. Đến sáng hôm sau, những cái đĩa này vẫn y nguyên, đầy nước và đầy các loại côn trùng vùng vẫy trong đó. Con culi chỉ bận rộn vào lúc mặt trời đang lặng, với nghĩa thỏai mái nhất của từ bận rọn. Nó bò dọc một cành cây trong tư thế lộn ngược điển hình với tốc độ khoảng bốn trăm mét một giờ. Dưới mặt đất, nó bò từ cây này sang cây kia với tốc độ hai trăm năm mươi mét ột giờ ki có lí do chính đáng, bốn trăm bốn mươi lần chậm hơn tốc độ di chuyển có lí do của loài báo cheetah. Còn nếu không có lí do gì, mỗi giờ chún chỉ di chuyển được khoảng bốn đến năm mét.

Con culi ba móng không biết gì mấy đến thế giới xung quanh nó. Với thang điểm từ hai đến mười, hai là mức độ lờ đờ bất thường và mười là mức linh hoạt cực điểm, tác giả Beebe (1926) đã đánh giá các giác quan của lưỡi, da, mắt và tai của loài culi ở mức hai, còn mũi thì ở mức ba. Nếu ta gặp một con culi ba móng đang ngủ ở trong rừng, ta chọc hoặc lay nó hai ba cái, nó sẽ tỉnh dậy, và cặp mắt ngái ngủ của nó sẽ hìn quanh, nhưng không thèm nhìn về phía ta. Không biết tại sao nó lại có thói nhìn quanh như thế, vì thực ra con culi nhìn cái gì cũng chỉ như một vệt nhòe nhoẹt mà thôi. Về nghe, lòai culi không đến nỗi điếc lắm, mà thực ra là không thích nghe. Tác giả Beebe có viết rằng culi đang ngủ hoặc đang ăn mà ta có gí súng bắn ngay cạnh thì nó cũng chỉ hơi nhúc nhích mà thôi. Và ta cũng không nên đánh giá quá mức cái khả năng ngửi được cho điểm khá hơn của culi. Người ta tin chúng có khả năng đánh hơi thấy và tránh các cành cây mục, nhưng tác giả Bullock (1968) lại tường trình rằng ông “thường xuyên” thấy các con culi ngã xuống đất vẫn bám chặt lấy đoạn cành mục mà nó đã bò lên.

Ta có thể hỏi vậy làm sao mà chúng sống được.

Chính là nhờ sự chậm chạp như vậy. Tính cách ngủ mê ngủ mệt của culi đã giữ cho chúngkhông bị xa vào vòng nguy hiểm, không rơi và tầm ngắm của hổ báo, cầy cáo, diều quạ. Lông culi là nơi cư trú của một loại tảo có mầu nâu trong ùa khô và xanhlá cây trong mùa mưa, giúp cho nó lẫn lộn vào rêu lá xung quanh, trông như một tổ kiến hoặc tổ sóc, hoặc chỉ như một phần sần sùi của một cái cây.

Con culi ba móng sốn cuộc đời chay tịnh, yên bình trong sự hài hòa hoàn hảo với môi trường. “Với một nụ cười tốt lành thường tực trên môi”, tác giả Tirler (1966) đã viết như vậy. Tôi đã tận mắt thấy nụ cười ấy. Toi không cótình thích gán cho loài vậtnhững tính cách và tình cảm của con người,nhưng đã biết bao lần trong tháng hè đó tại Brazil, khi ngước nhìn những con culi đang trong tư thế nghỉ ngơi, tôi cảm thấy như mình đứng trước những đạo sĩ yoga ở tư thế lộn ngược đang chìm sâu trong suy tưởng, hoặc nhữn ẩn sĩ đang nguyện cầu khẩn thiết, những đấgn hiền triết có cuộc sống bay bổng đầy những tưởng tượng hào sảng mà trí lực dò dẫm kiểu khoa học của tôi không thể nào vươn tới được.

Đôi khi, tôi bị lẫn lộn hai ngành học của mình. Một số bạn học với tôi trong môn nghiên cứu tôn giáo - những kẻ theo thuyết bất khả tri, không phân biệt được đâu là trên đâu là dưới, luôn ghê tởm lí lẽ vốn là vàng ròng của những người thông sáng - khiến tôi liên tưởng đến loài culi ba móng; còn con culi ba móng, tiêu bản đẹp đẽ của phép lạ cuộc sống, thì lại khiến tôi nghĩ đến Thượng đế.

Không bao giờ tôi gặp rắc rối với các đồng nghiệp khoa học. Các khoa học gia là một đám người thân thiện, vô thần,chăm chỉ, thích bia rượu và lúc không bận bịu với khoa học thì đầu óc họ chỉ quan tâm đến tình dục, cờ vua và bóng chày.

Tôi là một sinh viên oách, tôi có thể nói vậy. Tại đại học Thánh Michael, tôi đứng đầu bảng bốn năm liền. Tôi giành đượctất cả các phần thưởng cho sinh viên của khoa Động vật học. Nếu như tôi không giành được phần thưởng nào của khoa Nghiên cứu tôn giáo thì chỉ đơn giảnlà khoa này chẳng cómột phầnthưởng nào giành cho sinh viên (chúng ta đều biết rằng các phần thưởng cho việc nghiên cứu tín ngưỡng không nằm trong tay đám phàm phu tục tử như chúng ta). Còn tấm Huân chương Học thuật của ngài Tổng đốc, phần tưởng cao quí nhất của Đại học Toronto cho sinh viên, phần lớn chỉ giành cho các công dân Canada xuất sắc; nếu không vì cái thằng cu ấy, da trắng hồng, ăn thịt bò, cổ to như gốc cây, hơn hớn ầm ĩ rất khó chịu, thì tôi đã giành được nó rồi.

Tôi vẫn còn thấy đau khổ vì những chuyện nhỏ nhặt. Khi ta đã chịu nhiều đau đớn ở đời, mỗi một nỗi đau mới sẽ vừa nặngtrĩu mà cũng lại chẳng là gì. Cuộc đời của tôi cũng giống như một bức tranh memento mori** trong nghệ thuật châu Âu: lúc nào cũng có mộtchiếc đầu lâu như rằng cười bên cạnh để nhắc nhở tôi về những phù du của ham muốn nhân sinh. Tôi giễu cợt chiếc đầu lâu. Tôi nhìn nó và bảo, “Mày chọn nhầm đối tượng rồi. Mày có quyền không tin vào cuộc đời, nhưng tao lại không tin vào sự chết. Đi chỗ khác!” Chiếc đầu lâu nhúc nhắc rồi nhích lại gần hơn, nhưng tôi cũng chẳng ngạc nhiên. Lí do sự chết cứ bám riết lấy sự sống như vậy không phải là vì nhu cầu sinh học – đó là do ghen tị. Sự sống đẹp đến nỗi sự chết đã phải lòngnó, một mối tình tư vị đầy ghen tuông quắp chặt lấy bất kì thứ gì nó có thể động đến. Nhưng sự sống nhẹ nhàng bỏ qua, mất mát vài thứ chẳng đáng kể, và nỗi u buồn chỉ như một bóng mây bay. Thằng cu trắng hồng lại còn được thưởng của học bổng Rhodes. Tôi yêu hắn và mong cho hắn học được thật nhiều thứ tại Oxford. Nếu như Lakshmi, nữ thần tài sản, có ngày nào đó ban phát cho tôi ân sủng của Người,thì Oxford sẽ đứng thứ năm trong danh sách các thành phố tôi muốn viếng thăm trước khi quá vãng, sau Mecca, Varanasi, Jerusalem và Paris.

-----------

* Kabala hoặc Cabala: Hệ thống lý thuyết thần học bí truyền do các thầy cả Do Thái (rabbi) phát triển và lên tới đỉnh điểm trong thế kỷ 12, 13, có ảnh hưởng phần nào đến tư tưởng của một số triết gia Cơ đốc giáo thời trung cổ và phục hưng. Cốt lõi của Cabala là phương pháp diễn giải kinh sách rất bí hiểm mà các tín đồ tin rằng giúp được cho họ thâm nhập các bí mật thiêng liêng. Người theo thần học Cabala tin rằng muôn vật đều là biến hình của Thượng đế và Linh hồn đã tồn tại từ cõi vô cùng. (ND)

** Memento mori: Tiếng Latin, nghĩa là “nhắc ta nhớ đến cái chết” (ND)
Cuộc đời đi làm của tôi chẳng có gì đáng nói, chỉ trừ một nhận xét rằng cà vạt là một cái thòng lọng, và mặc dù lộn ngược, nó sẽ treo cổ người ta đến chết nếu không thận trọng.

Tôi yêu Canada. Tôi nhớ cái nóng của Ấn Độ, nhớ các món ăn, bọn thằn lằn bò trên tường nhà, phim kịch hát trên truyền hình, lũ bò đủng đỉnh ngoài phố, lũ quạ kêu quàng quạc, nhớ đến cả những cuộc bàn bán về các trận đấu cricket, nhưng tôi yêu Canada. Một xứ sở vĩ đại tuy có quá lạnh đối với người lành mạnh, nơi cư ngụ của những con người thông minh, hăng hái, nhưng đầu tóc để không được đẹp. Dù sao, Pondicherry chẳng còn có cái gì để tôi muốn quay về.

Richard Parker vẫn ở bên tôi. Chưa khi nào tôi quên được nó. Có dám nói tôi nhớ nó hay không ư? Có đấy. Tôi nhớ nó. Vẫn thấy nó trong các giấc mơ. Phần lớn là ác mộng, nhưng là ác mộng muốn màu tình yêu. Lòng người thật lạ. Tôi vẫn không thể hiểu nổi tại sao nó lại có thể bỏ tôi mà đi một cách dửng dưng như thế, không một cử chỉ chia tay nào, không hề ngoái lại lấy một lần. Nỗi đau như thể ai cầm rìu mà bổ vào tận tim vậy.

Các bác sĩ và hộ lý trong bệnh viện tại Mexico thực tốt với tôi hết chỗ nói. Cả các bệnh nhân cũng vậy. Bệnh nhân ung thư và nạn nhân tại nạn xe cộ, một khi đã nghe câu chuyện của tôi, họ chống nạng và lăn xe đến thăm tôi, họvà gia định họ, mặc dầu không ai nói tiếng Anh, còn tôi thì không biết tiếng Tây Ban Nha. Họ mỉm cười với tôi, bắt tay tôi, vỗ về lên đầu tôi, để các món quà, thức ăn và quần áo lại trên giường tôi. Họ khiến tôi rơi vào những trận khóc trận cười không thể ghìm lại được.

Chỉ trong vòng một vài ngày là tôi đã đứng lên được, thậm chí còn đi được một hai bước, mặc dù vẫn buồn nôn, ***ng mặt và mỏi mệt toàn thân. Xét nghiệm máu cho thấy tôi thiếu hồng cầu nghiêm trọng, lượng muối thì cao mà kiềm thì thâp. Cơ thể tôi bị đọng dịch, hai chân phù ghê gớm. Trông tôi như một anh bị ghép đôi chân voi vậy. Nước giải khát thì **c, vàng sẫm gần như nâu. Thế mà sau đó độ một tuần, tôi đã có thể đi lại bình thường, và có thể đi giấy nếu không buộc dây. Da dẻ tôi lành trở lại, mặc dù có sẹo ở vai và lưng.

Lần đầu tiên tôi vặn được vòi máy nước, dòng nước phụt ra thật ầm ĩ, phí phạm và xả láng đến nỗi tôi bị choáng, ngã ngất vào tay một người hộ lý.

Lần đầu tôi đến một quán ăn Ấn Độ ở Canada, tôi bốc thức ăn bằng tay. Người hầu bàn nhìn tôi một cách nghiêm nghị và nói: “Vừa dưới tầu lên phải không?” Tôi tái người. Những ngón tay tôi, một giây trước đó còn như những búp vị giác đang thưởng thức món ăn trước khi đưa chúng vào miệng, đột nhiên thành ra thật bẩn thỉu dưới ánh mắt của anh ta. Chúng cứng đơ lại như những kẻ phạm tội bị bắt quả tang. Tôi không dám liếm chúng. Tôi lau chúng bằng giấy ăn như một kẻ có lỗi. Anh hầu bàn không thể biết câu nói của anh ta đã cứa những vết thương vào lòng tôi sâu đến mức nào. Chúng như những cái đanh nhọn đóng ngập vào thịt tôi. Tôi nhặt condao và cái dĩa. Tôi thực không nhớ mình đã từng dùng những thứ đó bao giờ chưa. Hai bàn tay tôi run bắn. Dịch vị tôi khô kiệt.
 

rko_4180

New Member
Ðề: cuộc đời của pi

Chương 2
Anh sống ở Scarborough. Một người nhỏ nhắn, mảnh mai, cao không quá một thước sáu. Tóc đen, mắt đen. Bắt đầu hoa râm hai bên thái dương. Trông không thể quá bốn mươi. Nước da màu cà phê dễ chịu. Mới vào tiết thu mà đã khoác áo choàng mùa đông có mũ chùm lót lông để đi ăn tối. Giương mặt biểu cảm. Nói nhanh, hai tay huơ theo lời. Không chuyện vặt. Đã vào chuyện là kể liền liền.
Chương 3


Tên tôi là tên một cái bể bơi. Cũng là chuyện lạ vì cha mẹ tôi chẳng bơi lội bao giờ. Một trong những người có công chuyện sớm nhất với cha tôi là ông Francis Adirubasamy. Ông trở thành người bạn tốt của gia đình. Tôi gọi ông là Mamaji. Tiếng Tamil, mama nghĩa là bác, còn ji là vĩ tự hay dùng ở Ấn Độ để biểu lộ lòng yêu mến và kính trọng. Khi ông còn trẻ, nghĩa là rất lâu trước khi tôi ra đời, Mamaji là quán quân bơi lội của toàn vùng Nam Ấn. Cả đời trông ông lúc nào cũng ra một nhà quán quân. Anh Ravi của tôi có lần bảo rằng khi Mamaji lọt lòng mẹ, ông ấy vẫn đòi được tiếp tục thở trong nước đến nỗi bác sỹ, để cứu sống ông, đã phải túm lấy hai chân thằng bé rồi quay tròn trên đầu mình một lúc.

“Như thế này này!” Ravi nói, tay quay tít trên đầu. “Thằng bé ho sặc hết nước ra và bắt đầu thở không khí, nhưng máu thịt nó bị quay dồn hết lên phần trên của cơ thể, nên ngực nó mới dầy như thế và chân nó mới khẳng khiu như thế.”

Tôi tin Ravi. (Anh Ravi là một tên trêu ngươi lưỡi nhọn. Lần anh gọi Mamaji là “Ông Cá” ngay vào mặt tôi, tôi đã vứt vỏ chuối vào giường anh.) Ngay ở tuổi sáu mươi, khi Mamaji đã hơi còng và thịt ông đã hơi bị trọng lực kéo xuống phía dưới, ông vẫn hàng sáng bơi đủ ba mươi lần chiều dài của bể bơi trong Aurobindo Ashram*.

Ông cố dạy cha mẹ tôi bơi, nhưng chẳng bao giờ cha mẹ tiến bộ quá mức lội xuống nước đến đầu gối ở bãi biển và đứng làm các động tác tay khoát tròn. Nếu cha mẹ tôi đang tập bơi ếch chẳng hạn, thì trông họ như đang đi trong rừng, vừa đi vừa lấy tay vạch cỏ trước mặt. Còn nếu cha mẹ tập bơi sải thì trông như họ đang chạy từ trên đồi xuống và cứ phải vung tay cho khỏi ngã. Anh Ravi thì cũng kém hăng hái chẳng thua gì thế.

Mamaji phải đợi cho đến khi tôi xuất hiện để có được một môn đệ hăng hái. Ngày tôi đến tuổi bơi lội, tức là lên bẩy, theo tuyên bố của Mamaji và khiến mẹ tôi phát phiền, ông đem tôi xuống bãi biển, khoát tay về phía chân trời và nói: “Đây là món quà của ta cho con.”

“Rồi ông ấy suýt để con chết đuối”, mẹ tôi bảo vậy.

Tôi vẫn trung thành với thủy sư phụ của mình. Dưới con mắt canh chừng của ông, tôi nằm trên bãi biển, quẫy chân, quạt tay trên cát, đầu quay bên này bên kia để thở theo mỗi động tác. Chắc hẳn trông tôi như một thằng nhóc đang làm mình làm mẩy một cách chậm chạm rất lạ. Dưới nước, ông giữ cho tôi nổi và tôi hết sức bơi. Khó hơn nhiều so với tập trên cạn. Nhưng Mamaji kiên trì và đầy khích lệ.

Khi ông thấy tôi đã tiến bộ rồi, chúng tôi bắt đầu chấm dứt những cuộc chạy nhảy nô rỡn với những làn sóng xanh biếc sủi bọt của bờ biển và bắt đầu việc luyện tập quy củ (và phải trả tiền) trong cái phẳng phiu nghiêm túc của hồ bơi cư xá.

Mỗi tuần ba lần, vào thứ Hai, thứ Tư và thứ Sáu, trong suốt những năm thơ ấu, tôi đi với ông đến bể bơi vào sáng sớm và thực hiện một thứ nghi lễ chính xác và đều đặn như một cỗ máy đồng hồ của bài luyện tập bơi sải. Tôi còn nhớ như in hình ảnh sinh động của ông già đáng kính đang bắt đầu khỏa thân ngay cạnh tôi, cơ thể ông lộ ra dần, và cuối cùng chỉ hơi quay đi để giữ thể diện với một bộ quần bơi vận động viên chính cống nhập khẩu đẹp tuyệt. Ông đứng thẳng người trong tư thế sẵn sàng. Hình ảnh ấy thật giản dị và hùng tráng. Học bơi, rồi tập bơi, thật cực nhọc, nhưng có một niềm khoái lạc sâu xa khi cảm thấy mỗi động tác của ta ngày càng nhẹ nhàng và đưa ta lướt tới nhanh ***ng hơn, nhanh hơn nữa, cho tới lúc như mê đi, và khối nước nặng như chì trở thành một chất lỏng nhẹ bỗng.

--------

* Ashram là danh từ chỉ một khu trường trại của những người theo cùng một tín ngưỡng hoặc giáo phái. Aurobindo (1872-1950) là một học giả và lãnh tụ tôn giáo nổi tiếng của Ấn Độ.
Món quà tôi tặng Mamaji một dịp sinh nhật, lúc đó chắc tôi mười ba mười bốn tuổi gì đó, là hai vòng bơi bướm hoàn chỉnh. Tôi đến đích mệt đến nỗi không giơ nổi tay để chào vẫy ông nữa.

Bên cạnh việc bơi lội thực sự, còn có việc nói về nó nữa. Cha tôi rất thích nói đến bơi. Cha càng không chịu tập bơi bao nhiêu thì càng thích bơi bấy nhiêu. Bơi lội là chuyện xả hơi của cha mỗi khi không nói chuyện công việc hàng ngày của ông tại vườn thú. Nước không có hà mã có vẻ dễ cai quản hơn nhiều so với nước có hà mã.

Mamaji du học Paris hai năm, nhờ có chính quyền thực dân. Đó là thời kỳ đáng nhớ nhất của ông. Dạo ấy là đầu những năm 1930, lúc người Pháp vẫn còn cố đồng hóa Pondicherry, cũng như người Anh đang cố đồng hóa những vùng còn lại của Ấn Độ. Tôi không nhớ rõ Mamaji học gì. Hình như có dính dáng đến thương mại. Ông là người kể chuyện tuyệt vời, nhưng lại quên sạch các câu chuyện học hành của mình, cũng chẳng nhớ gì đến tháp Eiffel, cung điện Lourve, hoặc các quán cà phê dọc đại lộ Champs Elysees. Tất cả các câu chuyện của ông kể đều là về các hồ bơi và các cuộc thi bơi. Ví dụ, có Piscine Deligny*, bể bơi cổ nhất của kinh thành, có từ năm 1796, là một cái xà lan neo tại bến tàu Orsay và là nơi diễn ra các cuộc tranh tài bơi lội trong thế vận hội Olympics năm 1900. Nhưng không có kỷ lục nào trong bể bơi này được Liên đoàn Bơi lội Quốc tế công nhận vì hồ này dài hơn kích thước tiêu chuẩn sáu mét. Nước trong bể lấy thẳng từ sông Seine, chẳng lọc mà cũng chẳng sưởi. “Vừa lạnh vừa bẩn”, Mamaji kể, “nước ấy đã chảy qua khắp thành phố thành ra rất bẩn. Rồi đám người xuống bơi lại làm cho nó bẩn đến phát khiếp lên được”. Với giọng thì thầm đầy âm mưu và đưa ra những chi tiết kinh khủng để chứng minh, ông đảm bảo với chúng tôi là người Pháp có những tiêu chuẩn vệ sinh cá nhân rất thấp. “Deligny đã bẩn thế rồi, mà bể bơi Royal, một cái nhà tiêu trên sông Seine, còn bẩn hơn. Dù sao thì ở Deligny người ta cũng còn chịu khó vớt những con cá chết vứt ra ngoài”. Nhưng gì thì gì, một bể bơi Olympic cũng vẫn cứ là một bể bơi Olympic, đã từng được vinh quang bất hủ. Cho nên có bẩn như một cái bể phốt đi nữa thì Mamaji cũng vẫn nhắc đến Deligny với một nụ cười âu yếm.

Dễ chịu hơn là các bể bơi ở Chateau-Landon, Rouvet, hoặc ở đại lộ Nhà ga. Đó là các bể bơi trong nhà có mái, xây trên đất liền, và mở cửa quanh năm. Nước bể lấy từ nguồn ngưng đọng trong các động cơ hơi nước của các nhà máy quanh đó, sạch hơn và ấm hơn. Nhưng chúng vẫn là những bể bơi tối tăm và thường quá đông đúc. “Nước ở đấy lềnh phềnh rất nhiều đờm dãi”, Mamaji chặc lưỡi, “cứ như bơi giữa đám sứa.”

Các bể bơi Hebert, Ledru-Rollin và Butteaux-Caillé thì sáng sủa, hiện đại, rộng rãi, và dùng nước từ những giếng khoan sâu. Chúng là tiêu chuẩn cho các bể bơi đô thị. Tất nhiên, còn có Piscine des Tourelles, một bể bơi Olympic nữa của thành phố, khai trương trong thế vận hội Paris năm 1924. Và còn nhiều bể khác nữa, rất nhiều.

Nhưng trong mắt Mamaji, không có bể bơi nào sánh được với vẻ huy hoàng của Piscine Molitor. Đó là vương miện cho những vinh quang bơi lội của kinh thành Paris, và quả thật, của toàn thể nhân loại văn minh.

“Đến các đấng thần linh cũng phải sung sướng khi được bơi ở đấy. Molitor có câu lạc bộ thi đấu bơi lội xuất sắc nhất Paris. Có hai bể, một trong nhà, một ngoài trời. Cả hai đều mênh mông như các tiểu đại dương. Bể trong nhà luôn luôn có hai làn dành riêng cho những người luyện tập bơi đường dài. Nước bể sạch và trong đến độ ta có thể lấy nó pha cà phê buổi sáng. Các phòng thay đồ bằng gỗ, sơn xanh nước biển và trắng, nằm xung quanh bể bơi thành hai tầng. Ta có thể nhìn xuống và thấy toàn cảnh bể bơi, chẳng sót vật gì. Những người phục vụ cùng phấn đánh dấu phòng thay đồ để mọi người biết ta đang ngự trong đó. Họ là các ông già chân đi khập khiễng, thân thiện với một vẻ dễ cáu bẳn. Họ phớt lờ những người la hét và hành vi ngốc nghếchcủa mọi người. Nước tắm từ các vòi hương sen nóng hổi và dễ chịu vô cùng. Có cả phòng tắm hơi và phòng thể dục. Bể ngoài trời thì mùa đông trở thành sân trượt băng. Có một quầy rượu, một quán cà phê, một hiên nằm phơi nắng, thậm chí có cả hai bãi tắm nhỏ trải cát tự nhiên. Tất cả các viên gạch men, đồ đồng và đồ gỗ đều bóng loáng. Đó là… đó là…”

Đó là bể bơi duy nhất khiến cho Mamaji rơi vào im lặng, kí ức ông phải bơi quá xa để có thể kể hết về nó.

Mamaji nhớ nó. Cha tôi mơ về nó.

Vì vậy mà cuối cùng, khi tôi ra đời, ba năm sau anh Ravi, một thành viên nữa được cả nhà mong mỏi, tôi đã được đặt tên là Piscine Molitor Patel.
 

rko_4180

New Member
Ðề: cuộc đời của pi

Chương 4

Dân tộc già nua và tốt đẹp của chúng tôi được tròn bảy tuổi trong thể chế cộng hòa thì lớn thêm ra với một lãnh thổ nhỏ. Pondicherry gia nhập Liên minh Ấn Độ ngày 1 tháng 11 năm 1954. Thành tựu dân sự này dẫn đến một thành tựu dân sự khác. Một phần đất của vườn bách thảo Pondicherry được chính quyền khoanh riêng ra, tạo một cơ hội làm ăn mới, lại không phải trả thuế thổ trạch, và thế là, như một phép lạ, Ấn Độ có một vườn bách thú mới toanh, thiết kế và quản lý theo những nguyên tắc sinh học lành mạnh và hiện đại nhất.

Đó là một vườn bách thú khổng lồ không biết là bao nhiêu diện tích đất, đến nỗi phải có hẳn một đường tầu hỏa để cho người xem đi cho hết, mặc dù khi lớn lên tôi cũng thấy nó cứ nhỏ dần, kể cả đoàn tàu. Hãy mường tượng một vùng đất nóng ẩm tràn ngập ánh nắng và rực rỡ màu sắc. Hoa nở liên miên, ào ạt. Cây cao, bụi thấp, và cây leo xoắn xuýt đủ các loại, nếu không có các bảng tên rõ ràng gắn dưới gốc chúng thì chẳng ai có thể biết được cây gì với cây gì. Có những chiếc ghế dài. Trên những ghế dài ấy ta thấy những người nằm ngủ duỗi dài, hoặc những cặp trai gái, những đôi trẻ măng vẫn còn thẹn thò đầu mày cuối mắt và giật mình khi tay chạm phải tay. Bất thình lình, trong đám cây cao mảnh dẻ trước mắt, ta nhận ra một cặp hươu cao cổ đang nhìn ta chăm chú. Nhưng chưa hết, chỉ ngay sau đấy thôi, ta giật nẩy mình vì những tiếng kêu váng óc của một đàn khỉ bất thần ở đâu ào tới, quện lẫn với những âm thanh lảnh lót đinh tai của các loài chim gì nữa chẳng biết. Ta đến chỗ sóat vé, lơ đãng trả một món tiền nhỏ, rồi đi tiếp. Ta thấy một bức tường thấp. Có thể thấy gì sau dẫy tường thấp tè ấy? Chẳng nhẽ lại là chuồng tê giác? Ấy thế mà đúng là chuồng tê giác thật, hai con tê giác Ấn Độ hùng vĩ trong một hố đất nông. Khi ta quay sang bên thì thấy ngay một con voi, đã lù lù ở đó từ bao giờ nhưng vì to quá mà ta không nhìn ra. Rồi thì ta nhận ra những con hà mã đang bập bềnh ngay dưới ao. Càng nhìn càng thấy. Hết cảnh này đến cảnh khác. Ta thực đang ở vườn bách thú có cái tên Zootown.

---------

* Piscine, tiếng Pháp, nghĩa là bể bơi (nhân tạo), độc giả cứ đọc tiếp sẽ hiểu tại sao chúng tôi không dịch từ này ra tiếng Việt. (ND)
Trước khi dọn nhà đến Ponidicherry, cha tôi quản lý một khác sạn lớn ở Madras . Lòng ưa thích động vật khiến ông chuyển sang nghề vườn thú. một bước quá độ tự nhiên, ta có thể nghĩ vậy. Nhưng cũng không hẳn thế. Về nhiều phương diện, cai quản một vườn thú là cơn ác mộng của một người quản lí khác sạn. Này nhé: khách trọ không bao giờ rời phòng đi đâu cả; chúng đòi hỏi không phải chỉ là một nơi trú chân, mà thực sự là một ăn chốn ở hẳn hoi; chúng lại luôn luôn có khách đến thăm, lắm bọn rất ồn ào và bừa bãi. Muốn dọn buồng cho chúng, ta phải chờ lúc chúng quá bộ ra đứng ngoài bao lơn, rồi phải chờ cho đến khi chúng chán cảnh ngoài bao lơn, quay vào buồng rồi thì mới quét dọn bao lơn cho chúng đựơc . Phải dọn dẹp liên miên, vì khách trọ đứa nào cũng bẩn thỉu như bọn nghiện rượu cả. Khách nào cũng đòi hỏi một chế độ ăn uống riêng, suốt ngày kêu ca phục vụ chậm, và tuyệt đối không bao giờ cho tiền hoa. Nói thật tình, nhiều khách trọ còn là bọn bệnh hoạn tình dục, hoặc bị nhịn quá mà thỉnh thoảng lại lên những cơn động cỡn điên cuồng, hoặc công khai bậy bạ, khiến cho ban quản lý luôn phải chứng kiến những cuộc mây mưa đá lở đất long không khuôn phép gì hết và cả những vụ loạn luân công khai ầm ĩ. Có ai làm khách sạn mà muốn có những loại khách như thế không chứ? Vườn bách thú Pondicherry là nguồn vui thú và cũng là nguồn đâu đầu cảu ông Santosh Patel, người sáng lập , chủ sở hữu, giám đốc, ông chủ của năm mươi ba người làm công, và là cha tôi.

Với tôi, nó là chốn địa đàng,. Tôi chỉ có những kí ức đáng yêu nhất của quãng đời lớn lên trong vườn bách thú đó. Tôi sống cuộc sống của một ông hoàng. Có đứa con trai của một vị vương giả nào có được một sân chơi mênh mông và sum sê đến thế? Lâu đài nào mà có được một bầy thú nuôi trong nhà như thế? Suốt thời gian thiếu niên, bầy sư tử đã là chiếc đồng hồ báo thức của tôi. chẳng cần đến những chiếc đồng hồ Thụy Sỹ làm gì. Sáng nào cũng thế, khi bầy sư tử cất tiếng gầm vang dội của chúng, ấy là đã đến 5 rưỡi 6 giờ rồi. Bữa điểm tâm diễn ra trong những tiếng kêu lảnh lót và kéo dài của bầy khỉ to mồm, các loài yểng, sáo , lũ vẹt Moluccan. Tiễn tôi đi học không phải chỉ có ánh mắt dịu hiền của mẹ, mà còn có cả những cái nhìn lưu luyến của bọn dái cá mắt sáng như sao,con bò rừng châu Mỹ khổng lồ, và đám khỉ độc đang vươn vai duỗi chân ngáp ngắn ngáp dài. Tôi phải trông chừng khi chạy qua dưới đám cây của bầy chim công vì chúng rất thích phóng uế xuống người tôi. Tốt nhất là chạy qua dưới rặng cây của bọn dơi rừng vì vào giờ đó sẽ chỉ có tiếng chí ***e ***i tai của chúng mà thôi. trên đường ra, tôi có thể dừng lại chỗ nuôi các lào trên cạn để ngắm những con ếch như được tráng men xanh biếc, hoặc vàng với xanh nước biển sẫm, hoặc nâu với xanh lá cây nhạt. Cũng có khi bọn chim ở đó khiến tôi phải để mắt đến chúng: những con hồng hạc mầu hồng rực, đàn thiên nga đen, bầy dad điểu một mào, hoặc những con chim nhỏ hơn như bọn bồ câu lông bạc, những con tình điểu có bộ mặt giống như trái đào tơ, hoặc đàn vẹt to mồm có những đám lông mầu da cam trước ngực.

Rất ít khi thấy đám voi, hổ báo, gấu hoặc hải cẩu dậy vào giờ sáng sớm đó, nhưng bọn khỉ đầu ***, vượn bạc má, vượn đít đỏ, hươu nai, hươu cao cổ, và các con lama(1) là những bọn dậy sớm. Sáng nào cũng vậy, tôi bước ra khỏi cổng chính với một ấn tượng cuối cùng vừa bình dị vừa không thể nào quên. Đó có thể là hình ảnh bầy rùa xếp lên nhau thành một kim tự tháp; cái mõm óng ánh của một con khỉ đầu ***; dáng im lìm oai vệ của một con hươu cao cổ; cái miệng béo mỡ và vàng óng đang há ra của một con hà mã; một con vẹt macaw đang dùng mỏ và chân để từng bước leo lên hàng rào; tiếng chép miệng lanh lảnh của một con cò mỏ giầy; vẻ nhìn già nua và xảo quyệt của một con lạc đà. Tất cả những hình ảnh và ấn tượng ấy kéo qua tâm trí tôi thật nhanh ***ng. Chỉ lúc từ trường về, tôi mới có thời gian khám phá từ từ những cảm giác khi được một chú voi hít ngửi khắp người một cách thân thiện như thể muốn xin một vài củ lạc có thể có trong túi tôi, hoặc khi một chú khỉ độc vần vò tìm chấy trên đầu tôi, kết thúc bằng một tiếng thở dài khi chẳng thấy món gì chén được. Giá mà tôi có thể truyền đạt được cái hoàn hảo của một con hải cẩu trườn mình xuống nước hoặc của một con khỉ nhện tung người từ chỗ này sang chỗ kia, hoặc chỉ đơn thuần là cái vẻ quay đầu của một con sư tử. Ngôn ngữ không thể truyền đạt nổi những cái đó. Tốt hơn cả là khi nào ta muốn cảm lại được sự hoàn hảo ấy, ta hãy tưởng tượng lại đúng những cảnh đó ở trong đầu.

Trong vườn thú cũng như ngoài thiên nhiên, thời gian tốt đẹp nhất để thăm viếng là bình minh và chiều tà. Đó là lúc hầu hết các loài vật trở nên sinh động nhất. Chúng động cựa và rời nơi ẩn nấp của mình để rón rén đến những mép nước. Chúng khoe lông khoe cánh. Chúng hát những khúc hát riêng của mình. Chúng tìm đến nhau và cử hành các nghi lễ của giống loài. Phần thưởng cho những ai biết ngắm nhìn và lắng nghe thật lớn lao. Tôii có những giờ phút triền miên không thể đếm được chỉ để im lặng chứng kiến những biểu hiện phong phú và đẹp đẽ cực kỳ của sự sống đã đem phúc lành cho hành tinh của chúng ta. Đó là một cái gì thật tươi sáng, vang dội, kỳ bí và tinh tế khiến cho các giác quan của ta tê dại.
------------------------------------
(1) Lama: Tên một loài lừa có lông giống như lông cừu, cổ dài, đầu nhỏ, gốc gác ở vùng núi cao Peru, Nam Mỹ.
Tôi đã nghe nhiều chuyện phi lý về các vườn thú, cũng nhiều như các chuyện phi lý về Thượng Đế và các tôn giáo.Những người có thiện chí nhưng bị thông tin sai lầm tưởng rằng các loài vật hoang dã ngoài thiên nhiên sống rất “hạnh phúc” bởi vì chúng được “tự do”. Khi nói vậy, họ thường nghĩ đến một con thú lớn và đẹp, ví dụ như sư tử hoặc loài báo cheetah (đời sống của một con sơn dương hoặc một con thú ăn kiến mõm dài thì ít có ai mường tượng làm gì). Họ tưởng tượng cảnh con thú hoang dã đó đang thả bộ trên đồng cỏ mênh mông như đi bách bộ sau khi đã ăn hết con mồi vừa ngoan ngoãn chấp nhận số phận bị ăn thịt của mình, hoặc đang chạy nhịp nhàng trong tư thế luyện tập để giữ cho cơ thể thon thả sau một bữa ăn quá đà. Họ tưởng tượng con thú ấy coi sóc bầy con của nó một cách dịu dàng và đầy tự hào, cả gia đình đang cùng nằm trên những cành cây và thoả mãn ngắm nhìn cảnh mặt trời đang lặn. Cuộc sống của loài vật hoang dã thật giản dị, cao thượng và đầy ý nghĩa, họ tưởng tượng như vậy. Thế rồi những con vật ấy bị bọn người xấu bắt nhốt vào những chuồng ***g nhỏ xíu. “Hạnh phúc” của chúng bị tiêu tan. Chúng khao khát “tự do” và tìm đủ mọi cách để chạy trốn. Bị chối bỏ “tự do” quá lâu, chúng trở thành như những cái bóng của chính mình, tinh thần chúng bị bẻ gẫy. Một số người đã tưởng tượng như thế.

Thực tế không phải vậy.

Các loài thú hoang dã có một đời sống khắc nghiệt để sinh tồn trong một kỉ cương xã hội không khoan nhượng và một môi trường trong đó nguồn sợ hãi thì nhiều mà nguồn thức ăn thì ít, và chúng phải luôn luôn bảo vệ lãnh địa của mình, suốt đời chịu cảnh rỉa rói của các loài ký sinh. Tự do có nghĩa gì trong hoàn cảnh ấy? Thực tế các loài thú hoang dã không hề được tự do trong không gian, thời gian và trong cả trong các quan hệ giữa chúng với nhau. Lý thuyết mà nói, một con vật có thể bỏ bầy đàn mà đi, phớt lờ tất cả những lề thói xã hội và những cương toả vốn có của giống loài. Nhưng chuyện đó hiếm hơn cả khi ta so với chính chúng ta, ví dụ như chuyện một người chủ tiệm chẳng hạn, với tất cả những ràng buộc bình thường - với gia đình, bạn bè, xã hội - tự nhiên bỏ tất cả để ra đi với vài đồng bạc lẻ trong túi và bộ quần áo trên người. Nếu một con người, là loài vật thông minh và mạnh dạn nhất, còn không muốn lang thang lữ thứ, làm kẻ lạ mặt trong thiên hạ để chẳng có ai mong ai đợi, thì một con thú hoang dã muốn thế làm gì, nhất là khi ta nghĩ rằng loài vật bao giờ cũng bào thủ hơn nhiều so với loài người. Quả thật loài vật bảo thủ, có thể nói là phản động nữa. Chỉ một thay đổi nhỏ xíu thôi cũng khiến chúng lo sợ rồi. Chúng chỉ mong mọi thứ cứ nguyên như thế, ngày này qua ngày khác, tháng này qua tháng khác. Những điều ngạc nhiên là chúng vô cùng khó chịu. Ta thấy điều này trong các quan hệ về không gian của chúng. Một con vật chiếm cái chỗ ở của nó, cho dù trong vườn thú hay ngoài hoang dã, cũng giống như một quân cờ chiếm cái chỗ của mình trên bàn cờ, nghĩa là rất trọng đại. Vị trí của con tướng trên bàn cờ ra sao, thì chỗ ở của một con thằn lằn, một con gấu hoặc một con hươu cũng như vậy, không hề có tí tự do lựa chọn nào trong việc này. Cả quân cờ và con vật đều bị ràng buộc bởi tình thế và mục đích. Trong hoang dã, các con vật đi theo những con đường nhất định vì những lý do bắt buộc, mùa này qua mùa khác. Trong vườn thú, nếu một con vật không ở chỗ bình thường của nó, với dáng điệu mà nó vẫn có vào giờ đó, thì tức là đã có chuyện. Có thể chỉ là phản ứng của con vật đối với một thay đổi rất nhỏ trong môi trường. Một đoạn ống nước cuộn tròn bị bỏ quên ở ngoài kia khiến cho con vật lo sợ. Một vũng nước vừa đọng làm cho nó không yên. Cái bóng của một cái thang. Nhưng cũng có thể là một nguyên nhân gì khác nghiêm trọng hơn. mà sợ nhất đối với một chủ vườn thú đó có thể thực sự là một “triệu chứng”, phải kiểm tra phân con vật ngay, phải hỏi kỹ người chăm sóc con vật đó về mọi chi tiết, phải mời bác sĩ thú y. Tất cả những cái này chỉ vì một con cò không thấy đứng ở chỗ nó vẫn đứng!
 
Top