Tìm hiểu về loài gấu trúc

[ẹc]

...
Staff member
Phần 1
Phần 2
Phần 3
Phần 4
Gấu trúc (Ailuropoda melanoleuca, lit. "Chân mèo màu đen và trắng"), [2] còn được gọi là gấu trúc khổng lồ để phân biệt nó từ không liên quan gấu trúc đỏ , là một con gấu [3] có nguồn gốc từ trung ương phương Tây và Tây Nam Trung Quốc . [4] Nó có thể dễ dàng được công nhận bởi lớn, đặc biệt mảng đen quanh mắt, trên tai, và trên cơ thể tròn. Mặc dù nó thuộc về trật tự Carnivora , chế độ ăn uống của gấu trúc là 99% tre . [5] Pandas trong tự nhiên sẽ thường xuyên ăn các loại cỏ khác, củ hoang dã, hoặc thịt ngay cả trong các hình thức của các loài chim, động vật gặm nhấm hoặc carrion. Trong điều kiện nuôi nhốt, họ có thể nhận được mật ong, trứng, cá, khoai lang, lá cây bụi , cam, hoặc chuối cùng với thức ăn đặc biệt. [6] [7]
Gấu trúc khổng lồ sống trong một vài dãy núi ở miền trung Trung Quốc, chủ yếu ở tỉnh Tứ Xuyên , mà còn ở các tỉnh Thiểm Tây và Cam Túc . [8] Như một kết quả của nạn phá rừng và canh tác phát triển khác, gấu trúc đã được thúc đẩy của vùng đất trũng khu vực nơi mà nó đã từng sống.
Gấu trúc là một bảo tồn phụ thuộc loài có nguy cơ tuyệt chủng . [4] Một báo cáo năm 2007 cho thấy 239 con gấu trúc sống trong điều kiện nuôi nhốt bên trong Trung Quốc và một 27 ngoài nước. [9] ước lượng dân số hoang dã khác nhau, một ước tính cho thấy có khoảng 1.590 cá nhân sống trong hoang dã, [9] trong khi một nghiên cứu năm 2006 thông qua phân tích ADN ước tính rằng con số này có thể lên cao là 2.000 đến 3.000. [10] Một số báo cáo cũng cho thấy rằng số lượng gấu trúc trong tự nhiên đang ngày càng tăng. [11] [12 Tuy nhiên, IUCN không tin có đủ chắc chắn chưa phân loại lại các loài nguy cấp để dễ bị tổn thương. [1]
Trong khi các con rồng thường được phục vụ như là biểu tượng quốc gia của Trung Quốc , quốc tế gấu trúc xuất hiện ít nhất như thường. Như vậy, nó đang trở thành sử dụng rộng rãi ở Trung Quốc trong bối cảnh quốc tế, ví dụ như năm Fuwa linh vật của Thế vận hội Bắc Kinh .
 

[ẹc]

...
Staff member
Những sự thật “bất ngờ” về loài gấu trúc khổng lồ

Gấu trúc khổng lồ là một trong những thành viên vô cùng quý hiếm trong gia đình họ gấu. Đây cũng chính là lý do khiến cấu tạo cơ thể và cuộc sống của chúng có nhiều điểm khác lạ đặc biệt so với những loài gấu khác.
t442773.jpg

Gấu trúc khổng lồ chỉ ăn thực vật mặc dù cơ thể chúng mang hệ tiêu hóa của động vật ăn thịt
Mặc dù mang hình dáng khổng lồ khi trưởng thành, song khi mới chào đời, cơ thể của gấu trúc con chỉ bằng một thỏi bơ và bằng 1/900 trọng lượng của gấu trúc mẹ.
Với trọng lượng này, gấu trúc sơ sinh thậm chí còn nhỏ hơn cả một con kangaroo mới chào đời. Gấu trúc mẹ sẽ chăm sóc con cái của mình cho tới khi chúng sẵn sàng cho cuộc sống riêng và trong giai đoạn này gấu trúc con cũng sẽ không dời khỏi hang.
Chiều dài cơ thể của một con gấu trúc khổng lồ là khoảng 150 cm (tính từ mũi cho tới mông) và trọng lượng là khoảng từ 100 – 150 kg. Những con gấu nhỏ bắt đầu học bò khi được 10 tuần tuổi và khi được 21 tuần tuổi, chúng có thể tự tin bước đi như những con trưởng thành. Chúng bú sữa mẹ cho tới 18 tháng tuổi và học ăn tre khi được từ 7 – 9 tháng tuổi.
Đặc điểm nổi bật của gấu trúc chính là bộ lông màu đen trắng. Trong đó phần mắt, tai, chân và vai sẽ phủ lông màu đen, còn những phần cơ thể còn lại sẽ có lông màu trắng.
Mặc dù chế độ ăn uống của những chú gấu trúc trưởng thành chủ yếu là từ cây tre, song cấu tạo hệ tiêu hóa của chúng lại giống với loài động vật ăn thịt hơn là động vật ăn cỏ. Với hệ tiêu hóa kỳ lạ như trên, gấu trúc buộc phải tiêu thụ rất nhiều cây tre nhằm cung cấp đầy đủ nhu cầu dinh dưỡng hàng ngày. Do đó, một chú gấu trúc khổng lồ trưởng thành sẽ phải ăn từ 12 – 38 kg tre/ngày.
Gấu trúc ưa sinh sống ở khu vực khí hậu ôn đới trong các khu rừng lá kim và cây lá rộng – nơi bạt ngàn rừng tre để thỏa mãi tính ham ăn của chúng. Ngày nay, loài gấu trúc khổng lồ sinh sống chủ yếu tại 20 khu rừng trên núi tại tỉnh Tứ Xuyên, Thiểm Tây và Cam Túc của Trung Quốc.
Giống như nhiều loài động vật to lớn khác, tỷ lệ sinh nở của gấu trúc cũng rất thấp. Trung bình một gấu trúc mẹ chỉ sinh từ 5 – 8 gấu con trong suốt cuộc đời. Đây cũng là một trong những lý do khiến số lượng gấu trúc mới sinh không thể bù đắp số lượng gấu chết.
Gấu trúc thường dành 12 tiếng/ngày để ăn. Bàn tay của chúng có một ngón cái giả thực chất chỉ là lớp da bao bọc phần xương cổ tay. Ngón cái giả này giúp cho gấu trúc nắm chặt được thân cây tre trong quá trình ăn. Đặc biệt, không giống với các loài động vật sinh sống trong khu vực khí hậu ôn đới, gấu trúc khổng lồ không có thời gian ngủ đông.
Và theo phong tục cổ xưa của người Trung Quốc, sau 100 ngày tuổi, gấu trúc con mới được đặt tên.
Gấu trúc khổng lồ hiện được xếp vào Danh sách đỏ các loài động vật đang bị đe dọa của IUCN. Thống kê năm 2004 cho thấy có khoảng 1.600 gấu trúc khổng lồ sinh sống trong môi trường hoang dã với 300 con hiện đang sống trong các sở thú và các trung tâm chăm sóc. Thậm chí, Trung Quốc còn thi hành bản án từ hoặc tử hình đối với những kẻ săn bắn và buôn bán da gấu trúc.
Một nguyên nhân khác khiến quần thể gấu sụt giảm số lượng nhanh chóng là do môi trường sống của chúng ngày càng bị thu hep từ chính hoạt động chặt đốn rừng lấy gỗ của con người. Khu vực sinh sống của gấu trúc đã giảm từ 5,1 triệu héc-ta vào những năm 1950, xuống còn 1,3 triệu héc-ta vào những năm 1990.
Tuy nhiên, tốc độ thu hẹp diện tích sống của gấu trúc cũng đã được ngăn chặn một phần từ năm 1998 nhờ chính phủ Trung Quốc thi hành luật cấm chặt đốn rừng trong khu vực gấu trúc sinh sống.
 

[ẹc]

...
Staff member
Lightmatter_panda.jpg

Gấu trúc – loài vật chỉ có ở Trung Quốc và đang đứng trước nguy cơ tuyệt chủng – lâu nay trở thành một trong những biểu tượng quảng cáo được nhiều người biết đến nhất trên thế giới. Tuy nhiên, do bản tính nhút nhát và xa lánh mọi người, gấu trúc được xem là một trong những sinh vật bí ẩn nhất hành tinh. Chẳng hạn, tại sao chúng chỉ ăn lá trúc? Tại sao chúng sinh sản kém? Hay tại sao loài vật khó thích nghi như vậy lại có thể tồn tại đến ngày nay? Những bí ẩn này mới đây đã được các nhà khoa học làm sáng tỏ. Theo đó, khác với những gì chúng ta nghĩ bấy lâu nay, loài gấu dễ thương này thật sự được trang bị tốt các kỹ năng để sinh tồn.
Nhiều người hay thắc mắc tại sao họ nhà gấu vốn ăn thịt còn gấu trúc lại ăn thực vật, và đặc biệt chỉ nghiện mỗi món lá trúc ít dinh dưỡng. Chúng hẳn phải bỏ ra hơn nửa ngày để ngồi “măm” lá trúc thì mới đủ lượng calorie cần cho cơ thể. Theo các nhà khoa học, chính ưu điểm sinh sôi nhanh cộng với phạm vi phân bố rộng khắp và hiện diện quanh năm suốt tháng đã đưa lá trúc trở thành món khoái khẩu của gấu trúc.
800px-Pandas_eating_bamboo_Washington_Zoo.JPG

Sử dụng ngón chân thứ 6 vốn hình thành từ xương cổ chân, gấu trúc dễ dàng chộp lấy nhánh trúc và tuốt lá. Sau đó, xương sọ và hàm răng chắc khỏe giúp chúng nghiền nát lá trúc thô ráp thành tinh chất cho vào bụng, đồng thời vi khuẩn hoạt động mạnh mẽ trong ruột sẽ giúp tiêu hóa lá trúc. Năm 2009 khi giải mã bộ gien của gấu trúc, các nhà di truyền học phát hiện có một gien bị đột biến - được cho là nguyên nhân chính khiến loài này không hứng thú với thịt. Mặc dù vậy, bộ gien của chúng vẫn chứa đầy đủ các men cần thiết để tiêu hóa thịt.
Một điều khác nữa khiến mọi người lầm tưởng về gấu trúc là chúng kết giao bạn tình kém. Song, trong một nghiên cứu dài hạn, các nhà khoa học phát hiện loài vật đặc hữu ở Trung Quốc rất nhạy đẻ. Thật ra, “tiếng xấu” về khả năng duy trì nòi giống của gấu trúc xuất phát từ chuyện con cái chỉ động dục một hoặc hai ngày trong năm. Song, trong giai đoạn này, con đực và con cái tích cực tìm kiếm bạn tình và rất háo hức giao phối. Gấu cái có thể mang bầu mỗi khi có cơ hội. Con non sinh ra tuy ốm yếu và chỉ nặng khoảng 100 gam – nhẹ nhất trong số con non của các loài có vú - nhưng cha mẹ chúng chăm sóc con rất chu đáo cho đến khi chúng trưởng thành.
Một điều thú vị nữa mà ít người biết về gấu trúc đó là những vết mùi (nước tiểu) trên thân cây rừng mà chúng để lại. Các thân cây này đóng vai trò như “bảng thông tin” và mọi con gấu trúc đi qua đều vô tình để lại thông tin của mình. 10 năm qua, các nghiên cứu được thực hiện trên đàn gấu trúc nuôi ở Trung tâm Nghiên cứu và Bảo tồn Gấu trúc Thành Đô ở tỉnh Tứ Xuyên (Trung Quốc). Thông qua vết nước tiểu của gấu trúc, các nhà khoa học có thể biết được nhiều thông tin về chúng như giới tính, tuổi tác, lịch sử sinh đẻ và cả tư thế đứng “tè”.
Theo các nhà nghiên cứu, độ cao của vết nước tiểu mà gấu trúc để lại trên thân cây còn tiết lộ cả địa vị trong bầy đàn. Vết tiểu ngược trên cây càng cao chứng tỏ con gấu trúc đó càng to lớn và có uy quyền. Sau khi xác định nước tiểu là phương tiện giao tiếp chính của gấu trúc, giới khoa học tiến hành phân tích sản phẩm bài tiết này ở cấp độ phân tử và phát hiện chúng chứa khoảng 1.000 hợp chất hóa học khác nhau. Đáng ngạc nhiên là không chỉ nước tiểu của con đực và con cái có những hợp chất khác nhau mà ngay cả giữa những con cùng giới cũng có dấu hiệu riêng biệt. Bên cạnh đó, các chuyên gia cũng khám phá rằng quầng mắt của mỗi con gấu trúc cũng thể hiện được giới tính và các đặc điểm cá nhân. Theo họ, hình dạng của quầng mắt thường không thay đổi ít nhất trong một năm.
BẢO TRÂM (Theo Telegraph)
 

[ẹc]

...
Staff member
Theo Wikipedia
Gấu trúc lớn hay gấu mèo lớn Trung Quốc (Ailuropoda melanoleuca, tên này nghĩa là "con vật chân mèo màu đen pha trắng") là một loài thú hiện nay được phân loại trong họ Gấu (Ursidae), có nguồn gốc ở miền trung Trung Quốc. Tên tiếng Hán của nó là đại hùng miêu (大熊猫). Dưới đây gọi tắt là gấu trúc.
Gấu trúc sống trong các khu vực miền núi, như Tứ Xuyên và Tây Tạng. Gấu trúc là biểu tượng của WWF (Quỹ Quốc tế Bảo vệ Thiên nhiên). Nửa cuối thế kỷ 20, gấu trúc cũng đã trở thành biểu trưng quốc gia của Trung Quốc, và hiện nay được sử dụng trong các đồng tiền vàng Trung Quốc.
Mặc dù được xếp vào bộ Ăn thịt (Carnivora), thức ăn chủ yếu của chúng là thực vật. Chúng ăn các cành non và lá cây, sống chủ yếu trên các cây tre, trúc. Ngoài ra chúng cũng ăn trứng và một số loài côn trùng. Những thức ăn này là nguồn cung cấp protein.
Gấu trúc sinh sản kém và tỉ lệ chết của con non rất cao. Chúng lớn chậm và trưởng thành muộn khi đã 5 đến 7 năm tuổi. Mùa sinh sản từ giữa tháng 3 đến giữa tháng 5. Trong thời kỳ này có thể có từ 2 đến 5 con đực cạnh tranh một con cái; chỉ có con đực thắng cuộc mới giành được con cái. Khi giao phối, con cái cúi đầu thấp xuống và con đực trèo lên từ phía sau. Thời gian giao hợp ngắn, dao động trong khoảng từ 0,5 đến 5 phút, nhưng con đực có thể giao hợp nhiều lần để đảm bảo việc thụ thai thành công. Thời gian giao phối cũng là thời gian ầm ĩ do các tiếng kêu rên của cả hai con.
Trong nhiều năm việc phân loại gấu trúc đã là vấn đề gây tranh cãi do cả gấu trúc và họ hàng xa của nó là gấu trúc đỏ (còn gọi là gấu mèo nhỏ) có cùng những đặc trưng của cả gấu và gấu mèo Mỹ. Tuy nhiên, các thử nghiệm gen cho thấy gấu trúc là một loài gấu thực thụ và là một phần của họ Ursidae. Họ hàng gần nhất của nó là gấu bốn mắt ở Nam Mỹ. Sự không nhất trí chỉ còn lại là việc xếp nó vào họ Gấu (Ursidae), họ Gấu mèo Mỹ (Procyonidae) hay một họ riêng gọi là họ Ailuridae.
Gấu trúc là loài đang gặp nguy hiểm do khu vực sinh sống bị thu hẹp và tỷ lệ sinh sản rất thấp, kể cả trong tự nhiên lẫn trong tình trạng giam cầm. Khoảng 1.600 con được coi là còn sống trong tự nhiên.
Gấu trúc có chân không bình thường, với "ngón cái" và 5 ngón ; "ngón cái" thực tế là xương cổ chân biến hóa. Stephen Jay Gould đã viết một bài tiểu luận về điều này, sau đó sử dụng tiêu đề The Panda's Thumb (Ngón cái của gấu trúc) cho cuốn sách tập hợp các bài tiểu luận này.
Gấu trúc lần đầu tiên được biết đến ở phương Tây vào năm 1869 nhờ nhà thám hiểm người Pháp Armand David. Gấu trúc nổi tiếng trong cộng đồng là nhờ sự dễ thương giống như của trẻ con làm cho nó giống với một con gấu nhồi bông sống. Một yếu tố khác nữa là chúng thông thường chỉ ăn lá tre, lá trúc một cách hòa bình chứ không phải là những kẻ săn mồi cũng bổ sung thêm hình ảnh của một con gấu dễ thương.
Việc cho thuê gấu trúc cho các vườn thú ở Mỹ và Nhật Bản tạo thành một phần quan trọng trong chính sách ngoại giao của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa trong thập niên 1970 vì nó đánh dấu những sự trao đổi văn hóa lần đầu tiên giữa Trung Quốc và phương Tây.
Tuy nhiên vào năm 1984, gấu trúc đã không còn được sử dụng vào mục đích ngoại giao nữa. Thay vì điều này, Trung Quốc chỉ đồng ý cho các quốc gia khác thuê gấu trúc trong vòng 10 năm. Mức phí cho mượn lên tới US$ 1.000.000 trên năm và một điều khoản là bất kỳ con gấu trúc nào mới ra đời trong thời gian cho thuê đều thuộc tài sản của Trung Quốc.
Năm 1998 một đạo luật được đưa ra bởi WWF khuyến khích Cục Cá và Động vật hoang dã Mỹ yêu cầu các vườn thú Mỹ theo đuổi việc nhập khẩu gấu trúc để đảm bảo rằng một nửa mức phí vẫn trả cho Trung Quốc sẽ được đưa vào các cố gắng bảo tồn gấu trúc hoang dã và môi trường sống của chúng trước khi cục này cho phép nhập khẩu gấu trúc.
527px-Giant_Panda_Washington_DC.JPG
 
Top